Tháng 7 Điện Biên, những cơn mưa rừng đổ về ràn rạt. Tây Bắc bây giờ đang là đỉnh điểm mùa mưa. Trời mưa rất phũ… giọt vắn giọt dài, giọt ngã giọt bay. Mưa bồm bộp trên tàu lá chuối, sầm sập một hồi, ngớt vài giờ rồi lại ào ào đổ.
Mùa này cây cối tốt tươi, cả thung lũng Mường Thanh núi dựng thành vách. Ngước mắt thấy vòm trời, phóng mắt ra thấy núi. Núi mẹ, núi con lô nhô, bồng bế nhau chạy mãi. Ở đây, mở mắt ra núi đầy trong mắt.

Cánh đồng Mường Thanh. Ảnh: Trần Hương.
Lòng chảo Điện Biên như chiếc vạc khổng lồ treo suốt cả nghìn năm, chứa chan huyền thoại và máu thịt của nhiều thế hệ. Con người như lọt thỏm giữa không gian hùng vĩ và hoang sơ ấy, nơi hơn 70 năm trước từng diễn ra cuộc chiến xâm lược ác liệt của thực dân Pháp. Và rồi chính tại đây, quân địch đã phải tháo chạy trong tủi nhục, chấm dứt một cuộc chiến tranh phi nghĩa. Giữa lòng chảo ấy, Nông trường Điện Biên xưa nuôi quân đánh giặc, nay miệt mài xanh, để hạt gạo Mường Thanh nay thành danh với gạo tám xoan Hải Hậu, là vựa lúa của xứ Mường Trời bình yên và thơ mộng.
Người lính già và lời Bác dặn ở… Bất Bạt, Sơn Tây
Liên hệ mãi tôi cũng có được số điện thoại của ông Phạm Tiến Mạnh ở số nhà 14, đường Quyết Tiến, Phường Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên, nguyên Phó Giám đốc Nông trường Quốc doanh Điện Biên (giai đoạn 1989 – 1994). Sau một hồi trò chuyện, bác Mạnh dẫn tôi đến gặp cụ Phạm Phú Thuyên (95 tuổi), quê gốc Thái Bình, nguyên chiến sỹ Trung đoàn 176, Đại đoàn 316 - người lính Điện Biên năm ấy mới 28 tuổi. Sau khi giải phóng Điện Biên, cụ là một trong số 1.933 người thuộc Đại đoàn 316 được Bác Hồ giao nhiệm vụ ở lại Điện Biên củng cố quốc phòng, giữ vững biên cương và xây dựng nông trường sản xuất.
Thấy người lạ đến, người lính già tung chăn nhỏm dậy, tựa lưng vào thành giường. Sau lời giới thiệu nhanh của bác Mạnh, cụ Thuyên tựa lưng vào thành giường, xốc lại cổ áo, vuốt mái tóc bạc. Đôi mắt ánh lên tinh anh. Chậm rãi, cụ kể: "Sau giải phóng Điện Biên, toàn bộ Đại đoàn 316 của chúng tôi ở lại làm nhiệm vụ xây dựng Nông trường Quốc doanh Điện Biên.
Ngày 10/3/1958 tại Bất Bạt (Sơn Tây), trong dịp Bác Hồ về thăm đơn vị, Bác ân cần dặn dặn chúng tôi: Bác tin các chú có truyền thống đoàn kết, kỷ luật chiến thắng ở Điện Biên Phủ. Sắp tới, các chú xây dựng quyết tâm mới, trở lại Điện Biên, vượt mọi khó khăn, xây dựng đất Điện Biên giàu đẹp cho đất nước.

Ông Phạm Tiến Mạnh (áo trắng) - nguyên Phó Giám đốc Nông trường Quốc doanh Điện Biên giai đoạn 1989 - 1994 và vợ chồng chiến sĩ Điện Biên Phạm Phú Thuyên, nguyên cán bộ kỹ thuật Nông trường Quốc doanh Điện Biên thời kỳ đầu. Ảnh: Trần Hương.
Bác còn căn dặn chúng tôi xây dựng nông trường là công việc mới mẻ, phải đoàn kết tốt trong đơn vị và địa phương, phải biết chọn giống tốt, cây, con cho phù hợp với đất đai… Đánh đế quốc thì có một thứ giặc trước mắt, nhưng trong nông nghiệp thì có nhiều kẻ thù như thời tiết, sâu hại mùa màng… Đánh giặc trong nông nghiệp phức tạp hơn đánh thực dân, phải chuẩn bị đánh cho thắng…”.
Vâng lời Bác và Đại tướng, ngày 18/3/1958, Trung doàn 176 rời Sơn Tây, hành quân lên Điện Biên. Sau gần 1 tháng hành quân liên tục, ngày 1/4/1958, Trung đoàn 176 đã có mặt tại Điện Biên, nhanh chóng bắt tay vào xây dựng doanh trại, phát hoang để kịp mùa vụ sản xuất và chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết cho việc thành lập nông trường.
Ngày 8/4, đơn vị tổ chức lễ ra mắt Nông trường Quân đội Điện Biên theo Quyết định của Bộ Tổng tham mưu gồm 1.954 cán bộ, chiến sĩ. Ngày ấy, mỗi đại đội của Trung đoàn là một đơn vị sản xuất của Nông trường, được bố trí xen kẽ với các xã, bản khu vực lòng chảo Điện Biên có tên gọi từ C1 đến C22. Trong đó, có C21, C22 được phân công về Mường Ảng.

Ông Phạm Tiến Mạnh - nguyên Phó Giám đốc Nông trường Quốc doanh Điện Biên giai đoạn 1989 - 1994. Ảnh: Trần Hương.
"Nhiệm vụ của Nông trường khi ấy là huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, vừa phá rỡ bom mìn, khai hoang, cải tạo ruộng đồng, phát triển sản xuất, đồng thời hướng dẫn đồng bào các dân tộc Điện Biên phát triển sản xuất, ổn định đời sống. Những năm 1958–1960, trong gian khó chồng chất, Nông trường gặt hái vụ mùa đầu tiên với 248 tấn thóc, 13 ngàn cây cao su, gần 1.000 con gia súc – một kỳ tích trên vùng đất từng bị cày xới bởi bom đạn", cụ Thuyên nhớ lại.
Ông Mạnh ngồi kế bên bấy giờ mới quay sang cụ bà Vũ Thị Đạt (vợ cụ Thuyên, năm nay 85 tuổi) lên tiếng: “Cụ bà đây cũng là công nhân Nông trường Quốc doanh Điện Biên, năm 1959 theo chồng lên Điện Biên, làm ở đội sản xuất C14. Chính là phường chúng ta đang ngồi đây".
“Phong trào đưa vợ con, thanh niên xung phong lên Nông trường ngày một lan rộng. Những cô gái từ Thái Bình, Hà Nội đã tình nguyện lên đường xây dựng quê hương mới. Từ những chiến sĩ năm nào như Mã Trung Nguyên, Phú Hồng, Phạm Ngọc Khanh đã trở thành những hạt nhân chèo lái Nông trường, để lại dấu ấn không phai mờ.
Từ năm 1960, Nông trường chính thức đổi tên thành Nông trường Quốc doanh Điện Biên. Với hơn 2.300 cán bộ, công nhân, họ đã khai phá thêm hàng trăm ha đất, trồng 450 ha cà phê, xây dựng các xưởng chế biến nông sản, phát triển sản xuất đa ngành.
Và cũng giai đoạn này, Nông trường đã lai tạo thành công giống lúa Điện Biên 1, Điện Biên 2 năng suất tốt, chịu hạn, chống chịu tốt sâu bệnh. Bộ Tổng tham mưu đã lấy giống lúa này của Nông trường tặng cho đất nước Cuba”, cụ bà Vũ Thị Đạt kể.

Cụ Phạm Phú Thuyên (95 tuổi) là chiến sĩ Điện Biên, nguyên cán bộ kỹ thuật Nông trường Quốc doanh Điện Biên giai đoạn đầu thành lập. Ảnh: Trần Hương.
Nông trường trên chiến địa xưa
Theo cụ Thuyên, giai đoạn 1960 - 1965, để phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ, Bộ Tổng tham mưu đã làm lễ hạ sao, đổi tên thành Nông trường Quốc doanh Điện Biên, trực thuộc Bộ Nông trường. Nhiệm vụ chính của Nông trường là khai hoang, sản xuất lương thực, thực phẩm.
Khi ấy, đội ngũ công nhân Nông trường 2.300 người được biên chế thuộc 23 đội sản xuất. Giai đoạn 1958 - 1964, Nông trường đã tổ chức khai hoang thêm được 800 ha đất, nâng tổng diện tích đất sản xuất lên 1.908 ha, sản lượng lương thực sản xuất được năm 1964 đạt 1.748 tấn. Nông trường đã trồng được 450 ha cà phê, xây dựng hệ thống nhà xưởng chế biến cà phê, mía đường, lúa gạo… Vai trò của Nông trường và hình ảnh công nhân Nông trường Điện Biên trong các giai đoạn này đã được giới văn nghệ sĩ đưa vào các tác phẩm văn học như Mùa Lạc của Nguyễn Khải, Con trâu sắt của Nguyễn Tuân, Người chăn bò trên đồi Bản Kéo của Nguyễn Huy Tưởng...
Từ 1965 - 1969 là giai đoạn Nông trường vừa sản xuất vừa sẵn sàng chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Để hoàn thành tốt nhiệm vụ, Nông trường vừa tổ chức sơ tán trụ sở vào khu vực Hoong Khoong (xã Thanh Xương, huyện Điện Biên cũ), vừa phải tổ chức lại sản xuất. Công nhân Nông trường vừa bám đồng ruộng sản xuất vừa phải sẵn sàng chiến đấu. Nông trường tiếp tục được tỉnh trang bị, bổ sung các loại vũ khí cấp tiểu đoàn gồm 1 tiểu đoàn súng bộ binh; 1 tiểu đoàn pháo binh, pháo 12 ly 7, pháo 14 ly 5 và pháo cao xạ 37, thành lập đơn vị trực chiến phòng không 24/24.

Bà Chu Thị Thanh Xuân - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Điện Biên kiểm tra sản xuất lúa trên cánh đồng Mường Thanh. Ảnh: Trần Hương.
Mặc dù chiến tranh ác liệt, nhưng với quyết tâm và lòng nhiệt huyết, cán bộ, công nhân Nông trường đã đốt đuốc làm đêm để cày bừa cho kịp thời vụ.
Các phong trào khi ấy nở rộ với các khẩu hiệu: “Giặc đến ta đánh, giặc đi ta sản xuất, làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm”, “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt”, “Thanh niên ba sẵn sàng”, “Phụ nữ ba đảm đang”. Những phong trào này được phát động sâu rộng thành cao trào, tiêu biểu trong thi đua sản xuất thâm canh cây cà phê, C5, C10 là những đơn vị tiêu biểu trong phong trào thâm canh lúa nước, cây ngô và được nhân rộng ra toàn bộ Nông trường.
Ông Phạm Tiến Mạnh, nguyên Phó Giám đốc Nông trường Quốc doanh Điện Biên kể: Năm 1970, Nông trường chuyển về tỉnh Lai Châu (cũ) quản lý. Những chuyến vận động lao động từ Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình vẫn nối dài. Các đội sản xuất tiếp tục vươn xa, mở rộng diện tích, giao nộp cho tỉnh hàng ngàn tấn lương thực, thịt, cà phê, đường.
Giai đoạn 1976–1984, Nông trường chuyển mình theo quy hoạch mới, chuyên sâu về sản xuất cây trẩu, ngô, giống lúa. Thời kỳ bao cấp khép lại, cơ chế thị trường mở ra, Nông trường trở thành một trong những đơn vị tiên phong giao khoán sản phẩm, khoán đất, khởi đầu cho bước ngoặt đổi mới.
Hơn ba thập kỷ tồn tại và phát triển (1958–1994), Nông trường Quốc doanh Điện Biên đã làm được điều tưởng chừng không thể: Biến chiến trường thành miền kinh tế, biến “trận đánh nông nghiệp” thành công cuộc lớn của lịch sử. Nơi đây không chỉ in dấu bước chân của những người lính năm xưa mà còn ghi nhớ một giai đoạn hào hùng của cả dân tộc, khi nông dân – công nhân – chiến sĩ hòa làm một, dựng nên một Điện Biên không chỉ anh hùng trong chiến thắng mà còn kiêu hãnh trong xây dựng hòa bình.

Cơ giới hóa trong sản xuất lúa ở cánh đồng Mường Thanh. Ảnh: Hoàng Châu.
Vựa lúa Mường Thanh
Trước mặt chúng tôi là thung lũng Mường Thanh rộng chừng 140 km2, được bao quanh bởi những ngọn núi xanh lam. Cánh đồng Mường Thanh từ lâu đã trở thành vựa lúa nuôi sống bao thế hệ đồng bào các dân tộc nơi đây, nơi từng là chiến địa khốc liệt giờ đã nhuộm sắc xanh của lúa, sắc vàng mỗi mùa gặt. Từ trên cao nhìn xuống, cánh đồng trải dài theo bờ sông Nậm Rốm như cánh hoa ban ôm trọn những di tích lịch sử.
Chia đôi cánh đồng Mường Thanh là dòng Nậm Rốm từng chôn vùi giấc mộng ngoại xâm, bào mòn bởi bom đạn, nay trở thành mạch nguồn của sự sống. Chỉ khi công trình đại thủy nông Nậm Rốm được hình thành, con sông mới hoàn thành sứ mệnh làm lá phổi xanh, là xương sống của lòng chảo Điện Biên.
Gần chục năm sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, hơn 2.000 thanh niên xung phong từ khắp ba miền đã về đây xây dựng hồ Pa Khoang, dựng nên công trình đại thủy nông lớn nhất Tây Bắc thời bấy giờ. Nhờ hệ thống thủy lợi ấy, diện tích canh tác trên cánh đồng Mường Thanh không ngừng được mở rộng.
Năm 1984, toàn tỉnh Điện Biên mới có gần 2.400 ha lúa hai vụ thì đến năm 2017, diện tích này đã vượt mốc 7.000 ha. Từ vùng đất thiếu đói quanh năm, Điện Biên đã vươn lên trở thành nơi có thể cung cấp lương thực cho các tỉnh khác. Một hành trình từ thụ động thiếu gạo ăn đến chủ động lương thực, từ gian nan đến vững bền được dệt nên bởi mồ hôi và khát vọng của lớp lớp nông dân Điện Biên mà khởi nguồn là Nông trường Quốc doanh Điện Biên.
Những thanh niên như anh Quản Bá Tới ở xã Thanh Yên - thủ phủ của lúa gạo Điện Biên đang tiếp nối giấc mơ về những mùa vàng bội thu trên cánh đồng từng một thời bị đạn bom cày xới. Tới là người tiên phong xây dựng Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp tổng hợp Thanh Yên (HTX Thanh Yên) chuyên sản xuất lúa gạo thương hiệu Điện Biên. Ban đầu anh phải đi từng nhà vận động bà con góp đất, tham gia liên kết. Chỉ 4 - 5 hộ tin tưởng. Từ diện tích ban đầu chỉ khoảng 20 ha, sau dần lên 10, rồi 15 hộ đồng hành cùng liên kết..., đến nay, HTX Thanh Yên đã liên kết gần 60 hộ với diện tích gần 100 ha.
Gạo Điện Biên không chỉ hiện diện tại các chợ truyền thống mà còn vươn ra siêu thị VinMart, Metro... Tới kể, riêng năm 2020, sản lượng gạo tiêu thụ qua kênh siêu thị của HTX Thanh Yên đã đạt 120 tấn, đây là con số ấn tượng cho một vùng đất từng là trận địa năm 1954.

Mùa vàng trên cánh đồng Mường Thanh. Ảnh: Xuân Tư.
Từ những người cày sâu cuốc bẫm, nhiều nông dân Điện Biên đã làm chủ máy móc, kỹ thuật, công nghệ canh tác hiện đại. Nông dân Vũ Thị Hòa ở xã Thanh Nưa chia sẻ: "Giờ việc sản xuất lúa của bà con đều đã được cơ giới hóa, năng suất vượt trội. Các giống lúa ngon như IR64, Tám xoan, Séng cù... được chọn lọc để canh tác thành vùng ổn định. Đó là kết quả ứng dụng khoa học, kỹ thuật trong sản xuất lúa gạo Điện Biên. So với thời kỳ bố mẹ chúng tôi còn làm công nhân Nông trường Quốc doanh Điện Biên thì sản xuất ngày nay quả đáng tự hào và nhàn hạ hơn rất nhiều".
Bà Chu Thị Thanh Xuân, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Điện Biên cho biết: Ban Cán sự Đảng tỉnh đang giao Sở xây dựng Đề án bảo vệ cánh đồng Mường Thanh – tư liệu sản xuất quý giá của Nông trường xưa. Một trong những mục tiêu là giữ nguyên trạng cánh đồng, ngăn chặn xâm lấn đất canh tác, đồng thời từng bước chuyển sang mô hình cánh đồng lớn, "xanh cùng xanh, chín cùng chín" để nâng cao chất lượng gạo.
Theo dòng chảy đằng đẵng của lịch sử, từ C1 đến C22 thuộc Nông trường Quốc doanh Điện Biên đã trở thành các đội sản xuất hiện nay với những tên gọi thân thuộc và gợi nhớ. Cán bộ, công nhân Nông trường năm xưa nay người còn, người mất, người đã hồi hương. Nhưng tinh thần và câu chuyện người lính hóa thân thành người nông dân vẫn còn nguyên vẹn. Trên đất Điện Biên hôm nay, những mùa vàng no ấm không chỉ là sản phẩm của nông nghiệp, mà còn là tinh thần yêu nước, dấu ấn quật cường và lòng tự hào dân tộc đã làm nên Điện Biên Phủ huyền thoại.
Tây Bắc bây giờ đang mùa mưa, cánh đồng Mường Thanh lúa đương thì con gái, trải dài một màu xanh bất tận như bản trường ca nối tiếp từ chiến hào đến đồng ruộng. Người lính năm xưa giờ hóa thành ký ức. Chiến địa năm xưa giờ vàng ươm những mùa gặt. Mỗi hạt gạo Điện Biên là chứng tích của thời gian, là mồ hôi, máu và khát vọng. Nông trường Điện Biên xưa không chỉ làm nên mùa vàng no ấm mà còn gieo vào mảnh đất này một nền hòa bình biết trổ bông.