Giai đoạn trước năm 1975
Là quốc gia ven biển, có lợi thế về điều kiện tự nhiên và nguồn lợi để phát triển kinh tế thủy sản, nghề cá Việt Nam có từ rất sớm. Những năm trước thập kỷ 50 của thế kỷ XX, nghề cá Việt Nam vẫn mang đậm dấu ấn của hoạt động tự cấp, tự túc; trình độ sản xuất còn lạc hậu, thủ công; hoạt động nghề cá chỉ được xem như một nghề phụ trong sản xuất nông nghiệp.
Từ sau những năm 1950, cùng với quá trình khôi phục và phát triển kinh tế ở miền Bắc, Đảng và Nhà nước đã bắt đầu quan tâm phát triển nghề cá; kinh tế thủy sản bước đầu có đóng góp đáng kể vào nền kinh tế quốc dân.

Quyền Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng tham quan gian hàng lĩnh vực thủy sản tại Triển lãm thành tựu đất nước “80 năm hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” sáng 28/8. Ảnh: Khương Trung.
Khi về thăm làng cá và ngư dân trên các đảo Tuần Châu, Cát Bà vào cuối tháng 3, đầu tháng 4/1959, Bác Hồ đã căn dặn "Biển bạc của ta do nhân dân ta làm chủ".
Năm 1960, Tổng cục Thủy sản được thành lập, đánh dấu thời điểm ra đời của ngành thủy sản Việt Nam. Kinh tế thủy sản đã bước đầu phát triển để hình thành một ngành kinh tế kỹ thuật với các tổ chức nghề cá công nghiệp như đoàn tàu đánh cá Hạ Long, Việt - Đức, Việt - Trung, nhà máy cá hộp Hạ Long; phong trào hợp tác xã được triển khai rộng khắp.
Đây là thời kỳ đất nước có chiến tranh, cán bộ và ngư dân ngành thủy sản "vững tay lưới, chắc tay súng", thi đua lao động sản xuất với tinh thần "tất cả vì miền Nam ruột thịt", cùng cả nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược "Xây dựng Chủ nghĩa Xã hội và đấu tranh thống nhất đất nước". Đường mòn Hồ Chí Minh trên biển có đóng góp công sức của ngư dân.
Đến năm 1975, sản lượng khai thác cá biển đạt gần 100.000 tấn, thu mua và chế biến hải sản hơn 51.000 tấn, nuôi trồng thủy sản đạt 1.800 tấn và 356 hợp tác xã nghề cá được hình thành và phát triển.
Giai đoạn 1976 - 1986
Ngày 30/4/1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, non sông liên một dải đã mở ra vận hội mới, cơ hội mới để phát triển ngành thủy sản.
Năm 1976, Bộ Hải sản được thành lập. Năm 1981 được tổ chức lại thành Bộ Thủy sản, ngành thủy sản bước vào giai đoạn phát triến toàn diện cả về khai thác, nuôi trồng, chế biến, xuất khẩu thủy sản và hậu cần dịch vụ nghề cá; đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất; bước đầu tham gia hội nhập với nghề cá thế giới.
Việc ngành thủy sản được Chính phủ cho phép áp dụng cơ chế "tự cân đối, tự trang trải" đã đưa xuất khẩu thủy sản trở thành mũi nhọn, tạo nguồn lực cân đối chính cho ngành. Phong trào "ao cá bác Hồ" được phát động và xuất hiện nhiều điển hình tiên tiến như: Công ty Xuất nhập khẩu thủy sản (Seaprodex Việt Nam); các hợp tác xã đánh cá tại Hải Phòng, Thái Bình, Ninh Hải, Vũng Tàu, Kiên Giang... đã tạo động lực mới cho sự phát triển bền vững của ngành. Việc phát triển kinh tế kết hợp với quốc phòng và xây dựng kinh tế xã hội vùng biển đã khẳng định rõ vai trò, vị trí của ngành thủy sản.

Trong giai đoạn 1976 - 1986, nuôi trồng thủy sản, trong đó có nuôi tôm xuất khẩu bắt đầu chú trọng phát triển. Ảnh: Hồng Thắm.
Cơ cấu nghề nghiệp, đối tượng khai thác được điều chỉnh phục vụ xuất khẩu. Nuôi trồng thủy sản, trong đó có nuôi tôm xuất khẩu bắt đầu chú trọng phát triển. Năng lực chế biến thủy sản được mở rộng với nhiều mặt hàng mới phục vụ thị trường nội địa và xuất khẩu.
Năm 1986, tổng sản lượng thủy sản đạt hơn 840 nghìn tấn, trong đó khai thác thủy sản đạt gần 600 nghìn tấn, nuôi trồng thủy sản đạt hơn 240 nghìn tấn; thu mua hải sản đạt hơn 370 nghìn tấn; có nhiều nhà máy chế biến xuất khẩu đạt 100 triệu USD; cả nước có 563 hợp tác xã và 2.321 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất thủy sản.
Giai đoạn 1987 - 1995
Từ năm 1991, toàn ngành tập trung thực hiện Chiến lược phát triển ngành thủy sản với 3 mục tiêu chính được Chính phủ giao là: Đảm bảo an ninh lương thực, phục vụ xuất khẩu và tạo công ăn việc làm cho người dân ven biển.
Năm 1993, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5 khóa VII xác định xây dựng thủy sản thành ngành kinh tế mũi nhọn. Việc áp dụng thành công cơ chế mới gắn sản xuất với thị trường đã tạo ra bước ngoặt quan trọng cho sự phát triển của ngành.
Việc đưa tàu cá đi khai thác ở vùng khơi và tăng cường xây dựng cơ sở hậu cần nghề cá tạo điều kiện cho khai thác hải sản phát triển mạnh. Nuôi trồng thủy sản trong dân tiếp tục phát triển; phương thức nuôi, đối tượng nuôi đa dạng hơn cho hiệu quả kinh tế cao. Nuôi tôm sú ở ĐBSCL phục vụ xuất khẩu tiếp tục được đẩy mạnh.
Chế biến thủy sản đã hướng tới đa dạng hóa sản phẩm và nâng cao chất lượng mặt hàng xuất khẩu. Ngành thủy sản tập trung đổi mới phương thức quản lý chất lượng và an toàn sản phẩm, tiếp cận và từng bước đáp ứng đòi hỏi của các thị trường lớn, nhờ đó sản phẩm thủy sản của Việt Nam đã tạo được uy tín và đứng vững trên các thị trường thủy sản trên thế giới. Các thành phần kinh tế được thu hút, đầu tư phát triển, góp phần phát triển thế mạnh của nghề cá nhân dân.
Năm 1995, tổng sản lượng thủy sản đạt 1,34 triệu tấn, trong đó khai thác 928,8 nghìn tấn, nuôi trồng 415,3 nghìn tấn; xuất khẩu đạt 550 nghìn USD. Giai đoạn 1980 - 1990, kim ngạch xuất khẩu thủy sản tăng trung bình 48,29%/năm; đến giai đoạn 1991 - 1995, tăng xuất khẩu vẫn duy trì ở mức 15,97%/năm.
Đến năm 1990, ngành thủy sản đã vinh dự được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh; năm 1992, Công đoàn Thủy sản Việt Nam và Hội Nghề cá Việt Nam đã được thành lập.
Giai đoạn 1996 đến nay
Luật Thủy sản năm 2003, Luật Thủy sản năm 2017 (thay thế Luật Thủy sản năm 2003) được Quốc hội ban hành và các văn bản quy phạm pháp luật khác là cơ sở pháp lý quan trọng để ngành thủy sản tiếp tục phát triển mạnh, duy trì nhịp độ tăng trưởng cao.
Nghị quyết số 36-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XII) về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đặt ra mục tiêu "đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển”; đạt cơ bản các tiêu chí về phát triển bền vững kinh tế biển; hình thành văn hóa sinh thái biển; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; ngăn chặn xu thế ô nhiễm, suy thoái môi trường biển, tình trạng sạt lở bờ biển và biển xâm thực; phục hồi và bảo tồn các hệ sinh thái biển quan trọng. Những thành tựu khoa học mới, tiên tiến, hiện đại trở thành nhân tố trực tiếp thúc đẩy phát triển bền vững.
Ngành thủy sản được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Tại Chiến lược, Thủ tướng xác định quan điểm: “Xây dựng thủy sản thành ngành kinh tế có quy mô và tỷ suất hàng hóa lớn, có thương hiệu uy tín, tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, có khả năng cạnh tranh cao và bền vững.
Hội nhập quốc tế sâu rộng, phát triển có trách nhiệm theo hướng kinh tế tuần hoàn, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và hiệu quả; thu hút các nguồn lực, các thành phần kinh tế đầu tư phát triển thủy sản hiệu quả với lực lượng doanh nghiệp là nòng cốt; đến năm 2045 “thủy sản là ngành kinh tế thương mại hiện đại, bền vững; là trung tâm chế biến thủy sản sâu, thuộc nhóm ba nước sản xuất và xuất khẩu thủy sản dẫn đầu thế giới; giữ vị trí quan trọng trong cơ cấu các ngành kinh tế nông nghiệp và kinh tế biển, góp phần bảo đảm an ninh dinh dưỡng, thực phẩm; bảo đảm an sinh xã hội, làng cá xanh, sạch, đẹp, văn minh; lao động thủy sản có mức thu nhập ngang bằng mức bình quân chung cả nước; góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền biển đảo của Tổ quốc”.

Giai đoạn 1980 - 1990, kim ngạch xuất khẩu thủy sản tăng trung bình 48,29%/năm. Ảnh: Hồng Thắm.
Để thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và Chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, ngành thủy sản được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành nhiều chính sách quan trọng, trong đó có 2 quy hoạch ngành cấp quốc gia, 4 chương trình cấp quốc gia và gầ 10 đề án/dự án.
Việc thực hiện 2 chiến lược nêu trên trong bối cảnh còn nhiều thách thức nội tại như: Tình hình biển Đông luôn diễn biến phức tạp; thiên tai, dịch bệnh vẫn là rủi ro lớn; biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt, đặc biệt là tác động của hạn hán, xâm nhập mặn ĐBSCL đến sản xuất thủy sản; chi phí sản xuất ở mức cao ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh quốc tế; "thẻ vàng" của Ủy ban châu Âu (EC) làm ảnh hưởng đến xuất khẩu và uy tín quốc gia; đầu tư được quan tâm nhưng chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của ngành thủy sản; các quốc gia nhập khẩu thủy sản Việt Nam ngày tăng cường rào cản kỹ thuật.
Giai đoạn này chứng kiến quá trình đổi mới tư duy toàn diện để quản lý nghề cá bền vững, hiện đại, hội nhập quốc tế: Công tác bảo tồn, bảo vệ, phát triển nguồn lợi thủy sản tiếp tục được quan tâm đặc biệt, coi đây là vấn đề cốt lõi để phát triển bền vững; điều chỉnh giảm dần số tàu khai thác, nhất là các tàu khai thác ven bờ, đồng thời tăng cường tàu khai thác xa bờ; tăng nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi biển công nghiệp; sản phẩm hàng hóa thủy sản được quản lý theo chuỗi, gắn với nhu cầu thị trường; nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật đã được ứng dụng vào sản xuất thủy sản để nâng cao giá trị sản phẩm; lực lượng kiểm ngư phát triển đồng bộ đến các địa phương ven biển; hạ tầng nghề cá được quan tâm đầu tư qua việc bố trí ngân sách nhà nước và thu hút đầu tư từ các dự án nước ngoài để xây mới, nâng cấp hệ thống cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão tàu cá, hạ tầng các vùng nuôi trồng thủy sản tập trung; công cuộc chống khai thác IUU, gỡ "thẻ vàng" của EC là nhiệm vụ chính trị trọng tâm của hệ thống chính trị.

Giai đoạn 1996 đến nay, chứng kiến quá trình đổi mới tư duy toàn diện để quản lý nghề cá bền vững, hiện đại, hội nhập quốc tế. Ảnh: HT.
Năm 2007, Bộ Thủy sản hợp nhất với Bộ NN-PTNT. Tháng 3/2010, Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Tổng cục Thủy sản thuộc Bộ NN-PTNT. Tháng 3/2013, lực lượng Kiểm ngư được thành lập.
Ngành thủy sản ngày càng hội nhập quốc tế sâu rộng; thị trường xuất khẩu thủy sản quốc tế được mở rộng với sự ra đời, hoạt động hiệu quả của Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP). Sản lượng thủy sản năm 2022 đạt hơn 9,06 triệu tấn, gấp hơn 5 lần so với năm 1996. Sản phẩm thủy sản Việt Nam đã xuất khẩu tới hơn 170 thị trường; kim ngạch xuất khẩu lần đầu vượt ngưỡng 1 tỷ USD (năm 1999) và gần 11 tỷ USD (năm 2022), đưa Việt Nam vào vị trí số 3 trong các nước xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới (Trung Quốc, Na Uy, Việt Nam).
Giai đoạn này, ngành thủy sản vinh dự được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao vàng (2007). Tổng cục Thủy sản được Chủ tịch nước tặng Huân chương Lao động hạng Nhất (2019).
Mới đây, tại Kỳ họp bất thường lần thứ 9, Quốc hội khóa XV, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết về cơ cấu tổ chức của Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV. Theo đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường được thành lập trên cơ sở hợp nhất Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ NN-PTNT.
Theo Nghị định 35 ngày 25/2/2025 của Chính phủ Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nhiều đơn vị trong lĩnh vực nông nghiệp của Bộ đã thực hiện hợp nhất. Cục Thủy sản và Cục Kiểm ngư của Bộ NN-PTNT cũng hợp nhất thành Cục Thủy sản và Kiểm ngư của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.