Tiết xuân, khi những hạt mưa đầu mùa vương mỏng trên mái nhà, gian bếp nhỏ vừa đủ ấm lên cùng ngọn lửa. Ấm trà đặt xuống chiếc bàn gỗ đã sẫm màu thời gian. Nước sôi chạm những búp trà, hương thơm lan rất khẽ, không gắt, không phô trương, như cách núi rừng vẫn tồn tại qua bao mùa mưa nắng.
Ngụm trà đầu tiên chạm môi, vị chát nhẹ mở đầu rồi lắng dần thành ngọt sâu, đọng nơi cổ họng. Đó không phải thứ vị có thể cảm nhận vội vàng. Phải nhấp chậm, phải ngồi yên, phải để thời gian đi cùng vị trà. Đó là dư vị của trà Shan. Trong khoảnh khắc ấy, người ta nhận ra mình không chỉ đang dùng một thức uống nông nghiệp mà đang chạm vào một lớp trầm tích văn hóa được chắt lọc qua nhiều thế hệ.
Qua các kênh truyền thông, nhiều người biết trà Shan được hái từ những thân chè cổ thụ. Nhưng ít ai hình dung, để có chén trà giản dị trên bàn ngày Tết là cả một cánh rừng chè Shan cổ thụ, nơi những gốc chè hàng trăm năm tuổi bám mình vào đá núi, quanh năm uống sương, hút mây. Những cây chè ấy đã ở đó từ khi bản làng còn thưa dấu chân người, chứng kiến bao mùa nương rẫy và đổi thay đời sống nơi sườn núi.
Những cây chè cổ thụ thân bám đầy địa y, dương xỉ, rêu mốc... Ảnh: Khương Trung.
Với đồng bào bản địa, chè không đơn thuần là cây trồng. Chè hiện diện trong ngày Tết, trong lễ mừng lúa mới, trong những buổi gặp gỡ đầu năm, ấm trà không vơi cạn khi câu chuyện còn dang dở. Mỗi chén trà là một cách giữ nhịp sống chậm giữa núi rừng, giữ sự gắn kết giữa con người với đất đai và ký ức bản làng.
Đã có một thời, rừng chè ấy đứng trước nguy cơ bị lãng quên. Khi giá trị bị đo đếm bằng sản lượng, khi những gốc chè cổ thụ bị hái tận, hái non, khi chè chỉ còn là nguyên liệu chứ không còn là văn hóa, thì chén trà ngày Tết cũng dần mất đi chiều sâu vốn có.
Chỉ đến khi có những con người lặng lẽ quay về với rừng, coi việc giữ rừng chè, bảo tồn, gìn giữ cây chè là giữ lấy căn cốt văn hóa bản địa, chén trà khi ấy mới tìm lại được vị của thời gian. Từ đó, câu chuyện gìn giữ rừng chè Shan cổ thụ bắt đầu như một di sản sống để văn hóa không chỉ được kể lại, mà tiếp tục được uống, được cảm trong từng ngụm trà ngày xuân.
Một trong những người đó là Nguyễn Trung Dũng, người được bà con gọi bằng cái tên mộc mạc “Dũng tóc dài”, “Dũng râu dài”. Trước khi lên Hồ Thầu, anh là chuyên gia của Công ty Hanel, chuyên khảo sát các vùng sinh thái cho dự án nông nghiệp công nghệ cao và dược liệu dưới tán rừng. Từ năm 2016, anh đi khắp Hà Giang, từ Xín Mần, Hoàng Su Phì đến Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc.
Với phương pháp thuận tự nhiên, rừng chè cổ thụ đã được Nguyễn Trung Dũng phục hồi, bảo tồn... Ảnh: Khương Trung.
Gặp rừng chè Shan cổ thụ ở Hồ Thầu, anh bị mê đắm. Anh quyết định rời công việc ổn định, ở lại với rừng, dành toàn bộ tâm huyết nghiên cứu cây chè. Đứng trước những gốc chè cổ thụ, anh nhận ra rằng nếu tiếp tục hái theo cách cũ, rừng chè sẽ không thể đi tiếp cùng con người. Từ đó, tư duy giữ rừng hình thành như một lựa chọn có ý thức: đặt văn hóa lên trước lợi ích ngắn hạn.
Với anh, mỗi gốc chè là một thực thể sống cần được tôn trọng; hái chè là một hành vi văn hóa, không chỉ là lao động sản xuất. Rừng chè Shan cổ thụ vì thế bước vào một hành trình mới được bảo vệ, được gìn giữ để tiếp tục hiện diện trong đời sống hôm nay và mai sau của bản làng.
Đưa chúng tôi đi giữa rừng chè, mỗi khi đặt tay lên thân cây, động tác của “Dũng tóc dài” đều rất chậm và nhẹ. Anh nhớ rõ từng gốc chè: cây nào đã yếu, cây nào vừa qua mùa khô khắc nghiệt, cây nào năm nay cho búp đẹp. “Chè cũng có tuổi, có sức khoẻ của nó”, anh nói, như một điều hiển nhiên.
Ý nghĩ giữ rừng đến với anh từ sự tiếc nuối, tiếc những gốc chè từng xanh tốt rồi thưa lá dần, tiếc hương trà nhạt đi, tiếc cả những câu chuyện cũ của người già mà lớp trẻ không còn đủ kiên nhẫn ngồi nghe bên ấm trà.
Theo anh, rừng chè này do cộng đồng người Mông để lại khi họ chuyển cư. Nếu tính mỗi 25 năm là một đời, thì có cây chè đã trải qua tới tám đời người Dao sinh sống, tức hàng trăm năm tuổi. Khi anh nhận rừng, hiện trạng chè hầu như đã suy kiệt do thói quen đốn đau, chặt cành để hái lá.
Từ gần chục năm trước, anh nhận thuê hơn 12 ha rừng chè cổ thụ của 22 hộ người Dao ở Hồ Thầu. Những năm đầu, anh để rừng phát triển tự nhiên, không khai thác, giúp cây hồi sức và thảm thực vật phục hồi. Mô hình anh theo đuổi là nông lâm kết hợp, đa tầng tán, tuyệt đối không dùng thuốc bảo vệ thực vật, thực chất là quay lại tri thức bản địa xưa.
Cây chè được để tự sinh tự dưỡng. Cành thiếu nắng tự rụng, trở thành dinh dưỡng cho đất. Mỗi năm chỉ hái một đến hai vụ. Nhờ vậy, rừng chè dần hồi phục, bộ rễ ổn định, tay cành khỏe hơn, sinh trưởng bền vững.
Mỗi năm, rừng chè chỉ cho thu hái hai mùa: vụ đông và vụ xuân. Vụ đông bắt đầu từ tháng 10, chè cao, thân phủ rêu địa y, phải bắc giàn để hái. Năng suất thấp, cả vụ chỉ khoảng 100 kg trà thành phẩm, thứ trà quý với hương vị mạnh mẽ, sâu sắc. Vụ xuân bắt đầu từ cuối tháng 3, kéo dài gần hai tháng, sản lượng khoảng một tấn.
Công đoạn sao chế cũng chậm rãi. Lá chè hong tự nhiên trước khi sao. Người làm trà dùng tay, mắt và mũi để cảm nhận từng mẻ. Với anh, khi vị chát dịu, hậu ngọt sâu và hương núi rừng còn đọng lại, chè đã làm tròn phận sự. Sau đó mới là câu chuyện về những nghiên cứu khoa học liên quan đến hoạt chất của chè Shan tuyết Hà Giang có thể giảm tế bào ung thư gan.
Trà thành phẩm sau khi được sơ chế tại xưởng của hợp tác xã. Ảnh: Khương Trung.
Điều anh nhấn mạnh không phải là sản phẩm, mà là mối quan hệ hài hòa giữa con người và rừng. Giữ cây chè là giữ nhịp sống bản làng. Khi rừng chè được gìn giữ đúng cách, sự đổi thay không hiện lên bằng những con số khô cứng, mà bằng nhịp sống trong bản. Chè không còn là sản vật bán vội, mà trở thành sinh kế bền bỉ. Không chỉ chè, bà con bây giờ đều hiểu, phá rừng không còn là lựa chọn, bởi mất rừng đồng nghĩa với mất sinh kế.
Những ngày giáp Tết, khi trà được đóng gói mang đi xa, mỗi gói trà rời bản mang theo hình ảnh quê hương và văn hóa bản địa. Ngày Tết, trong mỗi gian bếp, ấm trà vẫn ở vị trí quen thuộc. Người già rót trà, người trẻ lắng nghe chuyện cũ.
Nhấp một ngụm trà Shan cổ thụ, người ta cảm nhận vị chát dịu, hậu ngọt sâu và cả hành trình gìn giữ rừng, giữ nghề, giữ văn hoá, một vòng tròn lặng lẽ nhưng bền bỉ, đủ sâu để ở lại lâu dài trong đời sống hôm nay.

![Hồi sinh 'rốn' lũ: [Bài 1] Nhịp sống mới trên miền tây xứ Nghệ](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/256w/files/content/2026/02/04/may-cay-164014_9-160531.jpg)

![Hồi sinh 'rốn' lũ: [Bài 1] Nhịp sống mới trên miền tây xứ Nghệ](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/content/2026/02/04/may-cay-164014_9-160531.jpg)









![Hồi sinh 'rốn' lũ: [Bài 3] Lâm Đồng tính kế dài hơi](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/hoaipn88/2026/01/27/3231-1715953655329484390-nongnghiep-083224.jpg)
