Sang Israel tìm cái ngu của chính mình
Từng làm trang trại rau an toàn và mất trắng gần 4 bốn tỷ đồng giai đoạn 2007- 2010 tại quê nhà, anh Phạm Văn Hát (sinh năm 1972 ở thôn Kim Đôi, xã Tân Kỳ, Hải Phòng) quyết định sang Israel - quốc gia có nền nông nghiệp hiện đại hàng đầu thế giới, với mong muốn tìm ra nguyên nhân thất bại của chính mình.
Những ngày đầu ở trang trại là chuỗi thử thách khắc nghiệt: nắng nóng gay gắt, mỗi ngày anh phải uống tới 5-6 chai nước lớn. Đến ngày thứ ba kiệt sức, không biết tiếng Anh, anh vẽ ngay xuống đất mô hình tám người làm tám tiếng có thể thay bằng một chiếc máy.
Ông chủ gọi phiên dịch từ đại sứ quán, lắng nghe và cuối cùng đồng ý để anh tham gia chế tạo thiết bị bón phân tự động lắp sau máy cày, mở ra bước ngoặt mới trong cuộc đời anh.
Đôi giày dính đầy bùn, ống tay áo sắn cao nhưng tư duy của anh Hát thì luôn vận động như một kỹ sư thực thụ. Ảnh: Minh Toàn.
Sau ba lần thử nghiệm và cải tiến, sản phẩm của anh cuối cùng cũng đạt được mức độ hoàn thiện mà cả anh và chủ trang trại đều hài lòng.
"Họ vui lắm. Chủ trang trại mang máy ra đồng thử nghiệm và còn gọi bạn bè làm nông đến xem và đóng góp ý kiến. Những người khách này vỗ vỗ đầu tôi rồi nói ‘same, same…’. Ban đầu, tôi không hiểu, cứ tưởng họ chửi mình. Sau này mới biết họ đang so sánh trí tuệ của tôi với họ, rằng tôi cũng thông minh chẳng kém gì họ", anh Hát nhớ lại.
Chiếc máy gieo hạt là sản phẩm mở đầu hành trình cơ giới hóa nông nghiệp từ đôi tay nông dân. Ảnh: Minh Toàn.
Sau hơn một năm làm việc tại Israel, anh không chỉ chế tạo nhiều loại máy hỗ trợ sản xuất nông nghiệp mà còn được tăng lương lên gần 40 triệu đồng/tháng. Ngoài ra, thời gian này không chỉ giúp anh tích lũy kiến thức thực tiễn mà còn thay đổi tư duy về cách làm nông.
Nhưng thay vì tiếp tục gắn bó với công việc ổn định này, anh quyết định trở về Việt Nam với mong muốn mang công nghệ cơ giới hóa vào sản xuất nông nghiệp ở quê hương. Với suy nghĩ làm thuê không thể giàu được, muốn giàu phải làm chủ, anh từ bỏ mức lương cao để trở về khởi nghiệp.
Anh hiểu rằng con đường phía trước không hề dễ dàng: "Tôi sang Israel để tìm cái ngu của mình, cái ngu trong nông nghiệp. Nhưng rồi tôi hiểu rằng tôi không sai, chỉ là tôi đi trước nhu cầu của người dân… Với mức lương như vậy, trừ chi phí ăn uống thì phải mất 9 năm mới trả hết khoản nợ 4 tỷ. Nhưng 9 năm sau, khi trả hết nợ rồi mới bắt đầu lại thì tôi đã bị tụt hậu quá xa. Tôi chỉ học hết lớp 7, nếu không bắt đầu ngay thì sẽ không bao giờ kịp nữa".
Khi định kiến trở thành động lực
Khi bắt đầu con đường sáng chế, anh Hát gặp vô vàn khó khăn. Trở ngại lớn nhất anh phải đối mặt không chỉ là kiến thức mà còn đến từ gia đình và hàng xóm. Việc từ bỏ mức lương 40 triệu đồng mỗi tháng để quay về quê khởi nghiệp khiến nhiều người nghĩ rằng anh mất trí. “Cũng phải thôi, vì chẳng ai như tôi, nhà đang nợ đầm đìa lại bỏ công việc ổn định để làm lại từ đầu. Ban đầu, vợ tôi cũng hằn học, sau này mới dần hiểu và thông cảm…”, anh Hát chia sẻ.
Xưởng sáng tạo của anh Hát nằm biệt lập so với nơi lắp ráp, đây là nơi anh biến định kiến thành động lực. Ảnh: Minh Toàn.
Những ngày đầu ở Việt Nam, gánh trên vai khoản nợ khổng lồ, anh rơi vào cảnh túng thiếu. Anh kể: “Làm gì có tiền, nhà thì nợ chồng chất. Tôi còn nhớ lần đi Hà Nội mua mô-tơ, phải chạy ba lần trong một ngày. Sáng sớm đã lên, nhưng cửa hàng chưa mở. Mang về lắp không được, trưa lại đi đổi. Đến chiều vẫn không xong, lại đi lần nữa. Vì chính sách bán hàng của dân chợ Trời đổi trả chỉ trong ngày nên cứ phải đi đi về về như vậy”.
Trở về từ một nền nông nghiệp hiện đại, anh không chỉ đối diện với áp lực tài chính mà còn phải chịu những lời gièm pha. Nhiều người hoài nghi, thậm chí mỉa mai: “Sáng chế cái gì, đi ăn cắp thì có…”. Nhưng không nản chí, anh Hát lấy đó làm động lực để chứng minh rằng lựa chọn của mình là đúng đắn.
Trước những lời gièm pha, anh và vợ tự nhủ: “Vít bông vào tai mà làm”. Ảnh: Minh Toàn.
Hơn ai hết, anh hiểu rằng mình không thể dừng lại. Anh cùng vợ mở một xưởng nhỏ bên cạnh nhà. Nhưng giai đoạn này, áp lực từ ánh nhìn của người xung quanh khiến anh càng thêm nặng nề. “Tôi cảm giác mình đang ở đáy xã hội. Ai đi qua nhìn vào xưởng, tôi đều nghĩ họ đang chế giễu mình”.
Không bận tâm, anh và vợ tự nhủ: “Vít bông vào tai mà làm”. Nhớ lại khoảng thời gian đó, anh Hát bồi hồi: “Không ai đợi biết bơi mới xuống sông cả, cứ xuống sông rồi sẽ biết bơi. Nếu ngày ấy tôi không đặt cược cuộc đời mình vào sáng chế, thì bây giờ đã không có Hát sáng chế”.
Nhà sáng chế ‘chân đất’ trong xưởng máy
Xưởng cơ khí nhỏ cạnh cánh đồng ngay đầu làng là nơi anh Hát hiện thực hóa những sáng chế của mình. Không bản vẽ, không thiết kế chi tiết, anh mày mò thử nghiệm, chỉnh sửa từng bộ phận dựa trên những ý tưởng đã được “lập trình trong đầu”. Nhiều khi, anh quên cả ăn uống, chỉ tập trung vào việc khắc phục lỗi của máy.
Bước ngoặt đến khi mùa vụ tới, anh trai anh Hát trồng rau nhưng không thể thuê được người đặt hạt. Công việc này đòi hỏi đôi mắt tinh tường nhưng “người trẻ thì đi làm công ty hết rồi, người già lại không đủ sức khoẻ và mắt không tinh tường”. Thách thức đặt ra cho anh Hát và câu nói “Em mà làm được máy đặt hạt đó thì mới đáng nể” như một đòn bẩy tinh thần vực dậy anh Hát.
Anh Hát kiểm tra từng chi tiết máy trước khi giao hàng - thói quen bắt đầu từ những ngày còn bị nghi ngờ là “tay ngang”. Ảnh: Minh Toàn.
Anh lao vào nghiên cứu, ăn ngủ ngay trong xưởng. Không ít lần, chiếc máy gieo hạt tự động bị bỏ dở vì thất bại. Nhưng nghĩ đến công sức đã bỏ ra và nghĩ mình mà không chế tạo thành công thì cũng không có cái để chứng minh với mọi người, anh lại kiên trì mày mò, sửa chữa. “Vợ tôi cứ nói mãi, bảo tôi làm cái có người đặt hàng ra tiền thì không làm, cứ đâm đầu vào cái chẳng kiếm được đồng nào”.
Từng được mời làm việc ở Mỹ với mức lương cao, anh vẫn chọn ở lại quê hương, âm thầm góp phần đưa nông nghiệp thông minh đến gần hơn với người nông dân Việt.
Cuối cùng, sau nhiều lần thử nghiệm, chiếc máy gieo hạt đầu tiên của anh cũng ra đời. Không chip, không rơ-le, chỉ gồm một máy hút, đầu kim tiêm, van hơi từ xăm xe đạp lắp vào thân máy bằng inox. Khi cắm điện và bật công tắc, máy tự động vận hành. Chỉ cần thay đầu hút phù hợp với kích thước hạt, máy có thể gieo hạt cách đều nhau, độ chính xác lên tới 98% giúp tiết kiệm giống và giảm đáng kể công sức lao động.
Khi đưa vào thử nghiệm trên đồng ruộng, bà con không giấu nổi sự kinh ngạc: “Máy chạy êm quá!”, “Nhanh hơn người đặt vài chục lần!”… Những lời động viên ấy tiếp thêm động lực để anh tiếp tục sáng chế.
Nhờ thành công của chiếc máy gieo hạt, anh Hát giành được nhiều giải thưởng sáng chế trong và ngoài tỉnh. Hiện nay, sản phẩm này đã được 15 quốc gia đặt hàng. Người nông dân học hết lớp 7 đã vươn tầm thế giới, rửa sạch nỗi oan “ăn cắp”.
Không có bảng vẽ chuyên nghiệp, anh Hát biến cửa sắt thành “giấy nháp”, nơi anh Hát viết chi chít công thức, bản vẽ và tính toán từng con ốc, từng chi tiết máy. Ảnh: Minh Toàn.
Không dừng lại ở đó, anh tiếp tục chế tạo hàng loạt thiết bị giúp bà con giảm bớt gánh nặng lao động. Không cần đọc bản vẽ, chỉ cần khách hàng đưa ra ý tưởng, anh sẽ tìm cách biến nó thành sản phẩm thực tế. Có lần, một tập đoàn Đức đặt hàng máy tiêm vaccine cho gà con, anh đã sáng chế ra thiết bị có cùng công năng với các sản phẩm trên thị trường nhưng giá rẻ hơn 40 lần, tiêu thụ điện ít hơn 30 lần, không dùng nhiều chip hay rơ-le, giúp bà con dễ dàng sử dụng.
Hầu hết các sản phẩm của anh đều thiên về cơ giới hóa hơn là hiện đại hóa hay công nghệ hóa. Anh quan niệm: “Sản phẩm làm ra, ai cũng phải dùng được. Hỏng là tự sửa được, mua rồi là không cần gọi lại. Nếu làm ra một thiết bị rối rắm, khó sử dụng, thì nhà sáng chế chưa hoàn thành công việc của mình. Sáng chế là để phục vụ người dân, chứ không phải để làm khó họ”.
“Giảm sức người, khẳng định giá trị máy Việt"
Giấc mơ cơ giới hóa nông nghiệp của Phạm Văn Hát không còn là điều xa vời mà đang dần hiện hữu trên những cánh đồng. Gần đây, nhiều nông dân từ Buôn Ma Thuột tìm đến anh, mong anh nghiên cứu, chế tạo máy phục vụ thu hoạch cà phê, chanh leo, xoài, ca cao. Sau những chuyến đi thực địa, anh nói mình có nhiều kỳ vọng có thể giúp bà con bớt nhọc nhằn.
Với anh Hát, mỗi chiếc máy không đơn thuần là sản phẩm cơ khí mà là cách để thay đổi tư duy làm nông “lấm lem”, phụ thuộc quá nhiều vào sức người.
Ở nhiều vùng quê, tự động hóa vẫn là khái niệm xa lạ. Người dân nghe đến hai chữ “thông minh” thường e ngại, bởi những sản phẩm được quảng bá quá hiện đại, đắt đỏ, trong khi họ chỉ có vài sào ruộng, không biết mua về dùng thế nào. Chính vì vậy, các sáng chế của anh đều xuất phát từ ruộng đồng, từ trải nghiệm của một người nông dân “đặc sệt”, để máy móc phải gần dân, dễ dùng, phù hợp cả với sản xuất nhỏ lẻ.
Cơ giới hóa, theo anh, không chỉ để giảm mồ hôi mà còn giúp nông dân chuyển từ lao động tay chân sang quản lý sản xuất, tối ưu chi phí, nâng cao thu nhập. Anh kể, nhiều người mua máy về rồi gọi điện lại chỉ để nói: “Sao không biết anh sớm hơn, đỡ bao nhiêu tiền công”. Những phản hồi ấy trở thành động lực để anh tiếp tục sáng tạo.
Một trăn trở khác của anh là tâm lý sính hàng ngoại. Nhiều thiết bị hiện đại, giá cao nhưng không phù hợp điều kiện canh tác trong nước, cuối cùng bị bỏ xó. Anh tin rằng, sự đơn giản, thực tế mới là con đường bền vững.











![Chuyển đổi sinh kế cho ngư dân: [Bài 4] Phát triển du lịch cộng đồng](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/khanhld/2026/01/21/4509-1-143920_473.jpg)

