Giảm sản lượng nhưng không giảm giá trị
Từ những thách thức hiện hữu như suy giảm nguồn lợi, biến đổi khí hậu và áp lực hội nhập quốc tế, ngành thủy sản Việt Nam đã xác định rõ ba trụ cột chiến lược làm kim chỉ nam cho giai đoạn phát triển mới. Trong đó, trụ cột đầu tiên chính là khai thác có trách nhiệm - giảm cường lực nhưng vẫn bảo đảm giá trị, hiệu quả và sinh kế bền vững cho ngư dân.
Khai thác thủy sản vốn giữ vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế biển của nước ta. Đối với hoạt động khai thác thủy sản, biển Đông là môi trường sinh sống của khoảng 2.000 loài cá, trong đó có tới 130 loài có giá trị kinh tế cao, như cá thu, cá ngừ… Vùng biển ven bờ và vùng biển ngoài khơi nước ta đều có trữ lượng thủy sản rất lớn.

Ngành thủy sản giảm sản lượng khai thác nhưng nâng chất lượng, tăng giá trị, hướng tới phát triển bền vững. Ảnh: HT.
Nghề khai thác thủy sản cũng là sinh kế truyền thống, lâu đời, gắn bó với một bộ phận lớn cư dân nước ta tại các vùng ven biển, đảo. Những yếu tố này tạo điều kiện thuận lợi cho ngành khai thác thủy sản trở thành một trong những lĩnh vực mũi nhọn của quá trình phát triển kinh tế biển.
Tuy nhiên, để phát triển bền vững, ngành thủy sản đặt mục tiêu, đến năm 2030 sẽ giảm số lượng đội tàu khai thác từ 91.000 chiếc (như hiện nay) xuống dưới 77.000 chiếc. Cùng với đó, sản lượng thủy sản khai thác chỉ còn 2,8 triệu tấn, tức giảm khoảng 1 triệu tấn so với hiện nay. Giảm khai thác không có nghĩa là lùi lại, mà là bước đi khôn ngoan để tái tạo nguồn lợi, để biển bạc còn mãi là bệ đỡ cho các thế hệ mai sau.
Ông Trần Đình Luân, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cho biết, hiện nay chúng ta căn cứ vào dữ liệu điều tra nguồn lợi thủy hải sản để chứng minh cho bà con thấy nếu không giảm đội tàu mà cứ khai thác như hiện nay là không bền vững. Và người dân cần hiểu rằng, giảm đội tàu không phải phục vụ cho cơ quan quản lý.
Song song với quá trình giảm số lượng tàu khai thác thủy sản, cần đẩy mạnh công tác đào tạo chuyển đổi nghề cho ngư dân. Đối với số lượng tàu đánh bắt cá rất lớn ven bờ nên chuyển sang phương án đồng quản lý để khai thác du lịch. Mặt khác, chúng tôi cũng đang xây dựng các mô hình nuôi trồng thủy sản phù hợp để cho bà con không phải đi biển.
“Chúng ta giảm sản lượng khai thác nhưng không giảm giá trị. Như vậy, phải giảm tổn thất sau thu hoạch, nâng cấp hệ thống bảo quản, tăng tự động hóa để giảm áp lực và nguồn nhân lực đi biển. Và từ nguồn nguyên liệu tốt, chúng ta phải phát triển thành các sản phẩm chế biến giá trị cao, thay vì chủ yếu chế biến thành bột cá và sản phẩm giá trị thấp”, ông Luân cho hay.
Tăng nuôi trồng thủy sản là hướng đi tất yếu
Phát huy thế mạnh về điều kiện tự nhiên, ngành nuôi trồng thủy sản nước ta không ngừng phát triển, tạo được nhiều dấu ấn và có vị trí quan trọng trong nền kinh tế đất nước. Nuôi trồng thủy sản vừa góp phần bảo đảm an ninh thực phẩm, tạo việc làm, nâng cao thu nhập, vừa thúc đẩy giảm nghèo và phát triển kinh tế bền vững. Đến nay, nuôi trồng thủy sản đã có nhiều dòng sản phẩm tham gia vào chuỗi cung ứng sản phẩm toàn cầu, mỗi năm mang lại bình quân khoảng 9 tỷ USD cho đất nước.
Theo công bố mới nhất của Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO), Việt Nam là 1 trong 10 quốc gia có sản lượng nuôi trồng thủy sản lớn nhất thế giới và nằm trong nhóm 4 quốc gia trên thế giới có sản lượng nuôi trồng thủy sản chiếm trên 50% tổng sản lượng thủy sản cả nước. Nghề nuôi trồng thủy sản không chỉ giới hạn ở ao tôm, ao cá, ruộng lúa kết hợp, mà đã tiến tới làm chủ công nghệ nuôi biển hiện đại.

Việt Nam là 1 trong 10 quốc gia có sản lượng nuôi trồng thủy sản lớn nhất thế giới. Ảnh: HT.
Tăng nuôi trồng thủy sản là hướng đi tất yếu để phát triển thủy sản bền vững. Nhằm khai thác các tiềm năng, thế mạnh trong nuôi trồng thủy sản hiệu quả, bền vững, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Văn Thành đã ký Quyết định số 985/QĐ-TTg ban hành Chương trình Quốc gia phát triển nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2021 - 2030.
Chương trình đặt mục tiêu năm 2025, tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt 5,6 triệu tấn/năm, kim ngạch xuất khẩu đạt 7,8 tỷ USD/năm. Đến năm 2030, tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt 7 triệu tấn/năm, giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 12 tỷ USD/năm, tốc độ tăng trưởng giá trị nuôi trồng thủy sản đạt trung bình trên 4,5%/năm.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến cho biết, tôm Việt Nam có sản lượng 1,3 triệu tấn mỗi năm, xuất khẩu mang về 4,3 tỷ USD, trong khi cá tra có sản lượng 1,65 triệu tấn, giá trị trên 2 tỷ USD, thời gian tới cần tiếp tục phát huy hai sản phẩm thế mạnh này nhưng cần bàn kỹ để tạo động lực mới.
Bên cạnh đó, phải tăng tốc nuôi biển, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, kêu gọi các tập đoàn, doanh nghiệp lớn tham gia đầu tư. Cần xây dựng chuỗi liên kết chặt chẽ giữa nuôi trồng và chế biến, đồng thời mạnh dạn đổi mới về khoa học công nghệ và trang thiết bị nuôi biển hiện đại. Việc xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cho nuôi biển cũng hết sức cần thiết. Đặc biệt, cần chú trọng phát triển lĩnh vực rong tảo biển như một hướng đi tiềm năng.
Cấp bách bảo tồn biển
Trên thế giới cũng như ở nước ta hiện nay, xu hướng tiến ra biển, làm giàu từ biển và khai thác các nguồn tài nguyên từ biển đang ngày càng tăng. Đồng thời, tình trạng ô nhiễm môi trường biển, phá hủy đa dạng sinh học, cạn kiện tài nguyên biển cũng dần trở nên đáng báo động, gây ra nhiều thiệt hại nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội. Bởi vậy, công tác bảo tồn biển, gìn giữ đa dạng sinh học biển, ngăn ngừa tình trạng ô nhiễm môi trường biển cũng như bảo vệ và khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên biển trở nên cấp bách.
Trước tình hình đó, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 1539/QĐ-TTg về phê duyệt Đề án mở rộng, thành lập mới các khu bảo tồn biển, khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản, phục hồi các hệ sinh thái biển đến năm 2030.
Mục tiêu cụ thể đến năm 2030: Mở rộng diện tích, thành lập mới và quản lý hiệu quả 27 khu bảo tồn biển để đảm bảo đến năm 2030 tổng diện tích biển được bảo tồn đạt khoảng 0,463% diện tích tự nhiên vùng biển Việt Nam.

Công tác bảo tồn, gìn giữ đa dạng sinh học, ngăn ngừa tình trạng ô nhiễm môi trường cũng như bảo vệ và khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên biển trở nên cấp bách. Ảnh: Hồng Thắm.
Quản lý hiệu quả 59 khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản và 63 khu vực cấm khai thác thủy sản có thời hạn ở vùng biển, đảm bảo tổng diện tích khu vực được khoanh vùng bảo vệ nguồn lợi thủy sản, bảo vệ khu vực tập trung sinh sản, khu vực thủy sản còn non tập trung sinh sống của các loài thủy sản đạt khoảng 2,303% diện tích tự nhiên vùng biển Việt Nam.
Mở rộng diện tích, thành lập mới và quản lý hiệu quả các khu Ramsar, khu bảo tồn đất ngập nước, vùng đất ngập nước quan trọng ven biển để đảm bảo tổng diện tích các khu Ramsar, khu bảo tồn đất ngập nước, vùng đất ngập nước quan trọng ven biển đạt khoảng 1,5% diện tích tự nhiên vùng biển Việt Nam.
Ba trụ cột xanh không chỉ là giải pháp cho hiện tại, mà còn là lời hẹn cho tương lai: Một ngành thủy sản bền vững, một đại dương xanh mãi và một Việt Nam vững vàng trên bản đồ thủy sản thế giới.