Việc từng phát hiện kháng thể kháng virus Nipah trên một số loài dơi tại Việt Nam khiến không ít người lo lắng loại bệnh nguy hiểm này có thể đã âm thầm tồn tại trong nước. Tuy nhiên, các chuyên gia y tế cho rằng, cần hiểu đúng bản chất khoa học của các kết quả xét nghiệm để tránh hoang mang không cần thiết.
Nguồn lây virus Napah. Ảnh: PMC PubMed Central.
PGS.TS.BS Đỗ Văn Dũng, nguyên Trưởng khoa Y tế công cộng, Trường Đại học Y Dược TP.HCM cho biết, những dữ liệu được nhắc lại gần đây thực chất đã có từ hơn 10 năm trước. Khoảng năm 2012, các nghiên cứu tại Đắk Lắk và Hòa Bình từng ghi nhận kháng thể kháng virus Nipah trên một số loài dơi như dơi chó Ấn Độ (Cynopterus) và dơi quạ nhỏ (Rousettus), thông qua xét nghiệm ELISA.
Theo PGS Đỗ Văn Dũng, yếu tố thời gian không làm thay đổi bản chất vấn đề. Với các bệnh lưu hành ở động vật, nếu virus Nipah thực sự tồn tại và lưu hành trong quần thể dơi, như trường hợp tại Bangladesh, thì đến nay vẫn sẽ còn dấu vết rõ ràng, dù không phải năm nào cũng tiến hành xét nghiệm diện rộng.
Tuy nhiên, giới khoa học hiện vẫn đánh giá, virus Nipah chưa thực sự lưu hành tại Việt Nam, dựa trên ba căn cứ quan trọng.
Thứ nhất, các kháng thể được phát hiện không phải là kháng thể trung hòa, hoặc có hiệu giá rất thấp. Điều này cho thấy, nhiều khả năng đây chỉ là phản ứng chéo khi dơi nhiễm các loại virus khác có cấu trúc tương đồng, chứ không phải bằng chứng khẳng định sự hiện diện của virus Nipah.
Thứ hai, Việt Nam chưa phát hiện virus Nipah trên dơi quạ lớn (Pteropus) - loài được xác định là vật chủ quan trọng, từng đóng vai trò then chốt trong các đợt bùng phát dịch lớn tại Malaysia và Bangladesh.
Thứ ba, trong suốt nhiều năm giám sát dịch tễ tại những địa bàn từng ghi nhận dơi có kháng thể như Hòa Bình, Đắk Lắk, ngành y tế chưa ghi nhận bất kỳ ca viêm não nào nghi ngờ do virus Nipah gây ra trong cộng đồng.
“Từ những cơ sở này, có thể nhận định, Việt Nam hiện chưa nằm trong vùng nguy cơ cao của bệnh Nipah. Đánh giá này cũng tương đồng với quan điểm của các chuyên gia Thái Lan, nơi từng phát hiện virus trên dơi nhưng mật độ thấp hơn rất nhiều so với các vùng dịch”, PGS Đỗ Văn Dũng nhấn mạnh.
Các giai đoạn cơ thể người nhiễm virus Nipah. Ảnh: PMC PubMed Central.
Ở góc độ phòng bệnh, Thầy thuốc nhân dân, PGS.TS Lê Quốc Hùng, Trưởng khoa Bệnh Nhiệt đới, Bệnh viện Chợ Rẫy lưu ý, Nipah thường khởi phát từ nguồn động vật, đặc biệt là dơi, nhưng hoàn toàn có thể lây từ người sang người khi tiếp xúc gần với dịch tiết. Vì vậy, người dân không nên chủ quan nhưng cũng không cần hoảng sợ.
Theo PGS.TS Lê Quốc Hùng, những biện pháp phòng bệnh hiệu quả nhất vẫn là ăn uống vệ sinh, tránh tiếp xúc nguy cơ, rửa tay thường xuyên, đeo khẩu trang khi chăm sóc người bệnh, đồng thời đi khám sớm nếu xuất hiện các dấu hiệu thần kinh bất thường hoặc khó thở. Bình tĩnh, hiểu đúng và chủ động phòng ngừa chính là “lá chắn” tốt nhất trước những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như Nipah.
Virus Nipah (NiV) là tác nhân gây bệnh truyền nhiễm cấp tính, lây từ động vật sang người. Dù hiếm gặp, đây là bệnh đặc biệt nguy hiểm vì có thể gây viêm não cấp, viêm phổi nặng, suy hô hấp và diễn tiến rất nhanh. Tỷ lệ tử vong trong các đợt bùng phát từng được ghi nhận lên tới 70%, nên Nipah được xếp vào nhóm bệnh cần giám sát nghiêm ngặt và phát hiện sớm trong hệ thống y tế.
Nipah không lưu hành rộng rãi mà chủ yếu ghi nhận tại Nam Á và một số nước châu Á. Ổ dịch lớn đầu tiên xảy ra ở Malaysia giai đoạn 1998-1999, liên quan đến chăn nuôi heo. Từ năm 2001 đến nay, Bangladesh gần như năm nào cũng có ca bệnh, còn Ấn Độ xuất hiện các ổ dịch nhỏ, rải rác theo từng đợt.
Bệnh không có tính mùa rõ rệt như cúm. Tuy nhiên, tại Bangladesh, nhiều ca thường xuất hiện từ khoảng tháng 12 đến tháng 4-5, trùng thời điểm người dân sử dụng các sản phẩm dễ bị dơi làm nhiễm bẩn, điển hình là nhựa cây chà là tươi. Điều này cho thấy nguy cơ mắc bệnh gắn nhiều với tập quán sinh hoạt và môi trường tiếp xúc với dơi.
Nipah lây theo một “chuỗi” khá rõ ràng. Nguồn khởi phát quan trọng nhất là từ dơi sang người. Dơi ăn quả - ổ chứa tự nhiên của virus có thể làm nhiễm bẩn thực phẩm, đồ uống qua nước bọt và nước tiểu. Nhiều ca bệnh đầu tiên liên quan đến việc ăn trái cây bị dơi cắn dở hoặc dùng sản phẩm tươi không bảo đảm vệ sinh.
Động vật trung gian, đặc biệt là heo, từng đóng vai trò lớn trong ổ dịch Malaysia. Sau khi đã có ca bệnh, virus có thể lây từ người sang người nếu tiếp xúc gần với dịch tiết, nhất là trong gia đình và cơ sở y tế.
Virus Nipah không lây xa qua không khí. Đường lây truyền chủ yếu xảy ra khi chăm sóc người bệnh ho nhiều, khó thở; dùng chung vật dụng dính nước bọt; hoặc thực hiện các thủ thuật y tế tạo nhiều giọt bắn mà không có phương tiện phòng hộ.



























