Một ổ dịch do virus Nipah vừa được ghi nhận tại bang Tây Bengal, Ấn Độ, với hai ca nhiễm là nhân viên y tế diễn biến nặng. Trước nguy cơ lây lan của mầm bệnh có tỷ lệ tử vong cao, Bộ Y tế Việt Nam yêu cầu tăng cường giám sát và khuyến cáo người dân chủ động các biện pháp phòng ngừa.
Theo thông tin từ cơ quan y tế Ấn Độ, hai trường hợp nhiễm đều là y tá làm việc tại một bệnh viện tư nhân ở khu vực gần Kolkata. Hai người này cùng trực trong giai đoạn cuối tháng 12. Vài ngày sau, cả hai xuất hiện sốt cao và suy hô hấp, phải nhập viện điều trị tích cực. Đến đầu tháng 1, tình trạng chuyển nặng, trong đó một bệnh nhân đang nguy kịch.
Virus Nipah là tác nhân gây bệnh hiếm gặp nhưng đặc biệt nguy hiểm, có nguồn gốc từ dơi ăn quả. Ảnh: VCG.
Điều tra dịch tễ ban đầu cho thấy nguồn lây nhiều khả năng liên quan đến một bệnh nhân có biểu hiện hô hấp nặng nhập viện trước đó và đã tử vong khi chưa được xét nghiệm xác định tác nhân gây bệnh. Sau khi ghi nhận ca lây nhiễm trong bệnh viện, nhà chức trách địa phương đã triển khai các biện pháp khẩn cấp, bao gồm cách ly, truy vết và giám sát y tế.
Đến nay, khoảng 180 người liên quan đã được lấy mẫu xét nghiệm, trong đó 20 trường hợp tiếp xúc nguy cơ cao đang được cách ly và theo dõi sức khỏe. Bộ Y tế và Phúc lợi Gia đình Ấn Độ cũng phát đi cảnh báo trên toàn quốc, yêu cầu các bang tăng cường phát hiện sớm, giám sát ca nghi ngờ và chuẩn bị phương án ứng phó.
Virus Nipah là tác nhân gây bệnh hiếm gặp nhưng đặc biệt nguy hiểm, có nguồn gốc từ dơi ăn quả. Mầm bệnh này từng gây nhiều đợt bùng phát rải rác tại Nam Á, với tỷ lệ tử vong được ghi nhận ở mức rất cao, có nơi lên tới 70-75%. Bệnh thường khởi phát bằng các triệu chứng không đặc hiệu như sốt, mệt mỏi, nôn, đau đầu, sau đó có thể tiến triển nhanh sang suy hô hấp và viêm não cấp.
Một điểm khiến giới chuyên môn lo ngại là virus Nipah chưa có vắc xin phòng bệnh và cũng chưa có thuốc điều trị đặc hiệu. Ngoài các biến chứng cấp tính, một số bệnh nhân sống sót có thể gặp di chứng thần kinh kéo dài, xuất hiện sau nhiều tháng hoặc nhiều năm.
Sáng 27/1, Bộ Y tế Việt Nam cho biết đến nay nước ta chưa ghi nhận trường hợp nhiễm virus Nipah. Tuy nhiên, đây là bệnh truyền nhiễm nhóm A, thuộc nhóm đặc biệt nguy hiểm, có khả năng lây từ động vật sang người và từ người sang người.
Theo Bộ Y tế, virus Nipah được phát hiện lần đầu năm 1999 tại Malaysia, sau đó ghi nhận ca bệnh trên người ở Bangladesh từ năm 2001 và xuất hiện rải rác tại Ấn Độ. Thời gian ủ bệnh thường từ 4 đến 14 ngày. Bệnh lây truyền chủ yếu qua tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết, dịch bài tiết của người bệnh hoặc qua thực phẩm, đồ uống bị nhiễm virus từ dơi ăn quả.
Trước diễn biến mới tại Ấn Độ, Bộ Y tế đã chỉ đạo tăng cường giám sát tại cửa khẩu, cơ sở khám chữa bệnh và cộng đồng; sẵn sàng phương án phát hiện, cách ly, điều trị và kiểm soát lây nhiễm. Đồng thời, Việt Nam tiếp tục phối hợp với Tổ chức Y tế Thế giới và các quốc gia để cập nhật tình hình dịch tễ.
Đến ngày 26/1/2026, Việt Nam chưa ghi nhận trường hợp mắc bệnh do virus Nipah. Bộ Y tế đã chỉ đạo các địa phương tăng cường công tác giám sát, phòng chống dịch bệnh ngay từ các cửa khẩu, cơ sở y tế và cộng đồng, sẵn sàng các biện pháp đáp ứng, phòng chống dịch.
Để chủ động, phòng chống dịch bệnh do virus Nipah Bộ Y tế khuyến cáo người dân thực hiện tốt các biện pháp sau:
Hạn chế đến khu vực có dịch bệnh do virus Nipah nếu không thực sự cần thiết.
Tự theo dõi sức khỏe, trong vòng 14 ngày kể từ khi về từ vùng dịch, nếu có các triệu chứng như: đau đầu, đau cơ, nôn mửa và đau họng, chóng mặt, buồn ngủ, lú lẫn, co giật cần liên hệ ngay với cơ sở y tế gần nhất, hạn chế tiếp xúc với người khác, thông báo rõ tiền sử dịch tễ cho nhân viên y tế.
Đảm bảo vệ sinh thực phẩm: thực hiện "Ăn chín, uống sôi", rửa sạch và gọt vỏ trái cây trước khi ăn, không ăn, uống các loại trái cây có dấu hiệu bị động vật (dơi, chim) cắn hoặc gặm nhấm; tránh uống nước nhựa cây (như nhựa cây thốt nốt, nhựa dừa sống hoặc chưa qua chế biến).
Không tiếp xúc gần với động vật có khả năng lây truyền cao như là dơi ăn quả; thường xuyên rửa tay bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn sau khi giết mổ, tiếp xúc với động vật.
Hạn chế tiếp xúc trực tiếp với người bệnh, vật phẩm ô nhiễm từ người bệnh; cần sử dụng khẩu trang, găng tay và đồ bảo hộ cá nhân khi chăm sóc, điều trị người nghi ngờ, mắc bệnh, sau đó rửa tay bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn.
























