* Có phải cây chùm ngây là một loại dược liệu?
Võ Đình Phái, Tư Nghĩa, Quang Ngãi
Theo DS Trần Việt Hưng thì chùm ngây là một cây khá đặc biệt, tuy không thuộc họ Đậu nhưng lại cho quả có hình dáng tương tự như những cây trong họ đậu. Chùm ngây vừa là một cây thực phẩm đồng thời cũng là một nguồn dược liệu khá đặc biệt. Tại Việt Nam cây được trồng tại các tỉnh phía Nam từ Đà Nẵng, Nha Trang, Phan Thiết vào đến Kiên Giang và cả tại đảo Phú quốc. Tên khoa học là Moringa oleifera hay M. pterygosperma thuộc họ Moringaceae. Cây có thể mọc cao 5 đến 10m. Lá kép dài 30-60 cm, hình lông chim, màu xanh mốc; lá chét dài 12-20 mm hình trứng mọc đối có 6-9 đôi. Hoa trắng, có cuống, hình dạng giống hoa đậu, mọc thành chùy ở nách lá, có lông tơ.
Quả dạng nang treo, dài 25-30cm, ngang 2 cm, có 3 cạnh, chỗ có hạt hơi gồ lên; dọc theo quả có khía rãnh. Hạt màu đen, tròn có 3 cạnh, lớn cỡ hạt đậu Hòa Lan. Cây trổ hoa vào các tháng 1-2. Chùm ngây là cây có giá trị kinh tế cao, vừa là một nguồn dược liệu và là một nguồn thực phẩm rất tốt. Các bộ phận của cây chứa nhiều khoáng chất quan trọng. Các bộ phận của cây như lá, rễ, hạt, vỏ cây, quả và hoa có những hoạt tính như kích thích hoạt động của tim và hệ tuần hoàn, hoạt tính chống u-bướu, hạ nhiệt, chống kinh phong, chống sưng viêm, trị ung loét, chống co giật, lợi tiểu, hạ huyết áp, hạ cholesterol, chống oxy-hóa, trị tiểu đường, bảo vệ gan, kháng sinh và chống nấm...
Chùm ngây còn có thêm tác dụng làm tăng sự thải loại cholesterol qua phân. Nghiên cứu tại Ấn Độ thấy rễ chùm ngây có tác dụng ngừa thai. Hạt chùm ngây có hoạt tính kháng sinh, có khả năng ức chế sự phát triển của nhiều loài vi khuẩn và nấm. Hoạt tính cũa rễ chùm ngây trên sỏi thận loại oxalate đã được chứng minh tại Ấn Độ. Chùm ngây làm giảm rõ rệt nồng độ oxalate trong nước tiểu bằng cách can thiệp vào sự tổng hợp oxalate trong cơ thể. Sự kết đọng tạo sạn trong thận cũng giảm rất rõ. Có thể dùng hạt chùm ngây để lọc nước. Dùng hạt chùm ngây làm chất tạo trầm lắng và kết tụ, đưa đến kết quả rất tốt. Phương pháp lọc này rất có ích tại các vùng nông thôn của các nước nghèo.
Chùm ngây là một trong những cây thuốc rất thông dụng tại Ấn Độ. Vỏ thân được dùng trị nóng sốt, đau dạ dày, đau bụng khi có kinh, sâu răng, làm thuốc thoa trị hói tóc; trị đau trong cổ họng (dùng chung với hoa của cây nghệ, hạt tiêu đen, rễ củ; trị kinh phong; trị đau quanh cổ; trị tiểu ra máu; trị bệnh tả hoa, dùng làm thuốc bổ, lợi tiểu. Quả giã kỹ với gừng để làm thuốc đắp trị gẫy xương. Lá trị ốm yếu, gây nôn và đau bụng khi có kinh.
Dầu từ hạt để trị phong thấp. Tại Pakistan lá giã nát đắp lên vết thương, trị sưng và nhọt, đắp và bọng dịch hoàn để trị sưng và sa; trộn với mật ong đắp lên mắt để trị mắt sưng đỏ. Vỏ thân dùng để phá thai bằng cách đưa vào tử cung để gây giãn nở. Vỏ rễ dùng sắc lấy nước trị đau răng, đau tai... Rễ tươi của cây non dùng trị nóng sốt, phong thấp, thống phong (gout), sưng gan và lá lách. Nhựa từ chồi non dùng chung với sữa trị nhức đầu, sưng răng. Tại Trung Mỹ hạt chùm ngây được dùng trị táo bón, mụn cóc và giun sán. Tại Việt Nam, rễ chùm ngây được dùng để giúp lưu thông máu huyết, giúp dễ tiêu hóa, có tác dụng trên hệ thần kinh, làm dịu đau. Hoa có tính kích dục.
Hạt có tác dụng làm giảm đau. Nhựa từ thân cũng có tác dụng làm dịu đau. Tuy nhiên dùng liều quá cao có thể gây ra buồn nôn, chóng mặt và ói mửa. Liều cho uống: 5gram/kg trọng lượng cơ thể. Không nên dùng rễ chùm ngây cho phụ nữ có thai, vì có khả năng gây trụy thai. Bạn nào muốn có hạt giống cây chùm ngây để trồng làm thuốc có thể liên hệ qua điện thoại 0903178645.
* Xin cho biết triệu chứng và cách điều trị bệnh viêm phù nề xung huyết?
Thuongphamphi_1991@gmail.com
Theo các BS nội khoa thì người ta hay nói viêm phù nề xung huyết hang vị và hành tá tràng. Đó là một biểu hiện của bệnh dạ dày. Nếu bạn đã điều trị ở bệnh viện mà không thấy đỡ thì có thể tham khảo kinh nghiêm sau đây của dân tộc Dao đỏ: Triệu chứng thường gặp là: Cồn cào, nóng rát, đau quặn vùng trên rốn xuất hiện vài giờ sau khi ăn hay vào nửa đêm. Đau, khó chịu vùng trên rốn và đau nhiều hơn sau khi ăn. Buồn ói hay ói. Ợ hơi, ợ chua, ợ nóng, cảm giác đầy bụng dù ăn ít. Chậm tiêu, khó tiêu, không đói. Rối loạn tiêu hóa không rõ nguyên nhân. Những triệu chứng trên có thể là do đã nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori.
Ước tính có khoảng 7% dân số Việt Nam mắc bệnh đau dạ dày (hay còn gọi là đau bao tử). Mọi người ở mọi lứa tuổi đều có thể mắc bệnh. Đây là bệnh không chỉ gây ra các cơn đau khó chịu mà còn có thể đưa đến những biến chứng cấp đe dọa tính mạng do chảy máu ở dạ dày như ói ra máu, đi cầu phân đen (do có máu trong phân) hoặc thủng dạ dày. Thuốc thảo dược người Dao đỏ FANXIPANG là những gói bột đã được điều chế của người Dao từng nổi tiếng trị viêm loét dạ dày, hành tá tràng: - Uống 3 gói sau 29 ngày đã thấy rõ hiệu quả. Uống một thìa nhỏ thuốc bột trực tiếp ngậm vào mồm, sau đó uống 1 cốc nước sôi để nguội; uống ngày 3 lần trước khi ăn 20 - 30 phút.
Có thểt tự bào chế với công thức như sau: Dạ dày nhím 1 chiếc; 0,5 lít mật ong; 1kg nghệ đen. Sao dạ dày nhím nhẹ lửa 15 - 20 phút, sau đó tán nhỏ thành bột (cả vỏ và ruột); sao nghệ đen nhỏ lửa, nghiền thành bột mịn. Trộn bột dạ dày nhím + bột nghệ đen + mật ong tạo thành một chất sền sệt. Sau đó bỏ vào hộp dùng dần. Dùng thìa nhỏ ăn một thìa trước bữa ăn 20 - 30 phút (ngày dùng 3 lần). Bệnh nhân đau dạ dày, hành tá tràng không nên dùng thức ăn có chất kích thích, gây men; không dùng bia, rượu, sữa... các chất cay. Không dùng thức ăn cứng khó tiêu.
Có thể tìm hiểu thêm theo địa chỉ: Cty TNHH Nông dược bản H'Mông - Sa Pa. ĐT: 0976.06.06.07; 0912054267; 020873467.