Đến khi 169 hạt sen bay vào vũ trụ đầu năm 2025, PGS.TS Đặng Văn Đông đã âm thầm chứng minh nghiên cứu chỉ có ý nghĩa khi tạo được giá trị cho cuộc sống.
Sự kiện ấy đã tạo tiếng vang lớn bởi đã mở ra khả năng ứng dụng công nghệ sinh học, chọn tạo vật liệu mới và nghiên cứu sức chống chịu của cây trồng trong những điều kiện cực đoan, ở đây là môi trường ngoài không gian.
Với PGS.TS Đặng Văn Đông, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Rau quả - một trong những chủ nhân của những hạt sen Mặt Bằng, hành trình ấy bắt đầu từ một câu hỏi giản dị từ hơn 30 năm trước: Một đất nước còn khó khăn thì nghiên cứu hoa để làm gì?
PGS.TS Đặng Văn Đông (bìa trái) trình bày các kết quả nghiên cứu với nguyên Thứ trưởng Bộ NN-MT Phùng Đức Tiến. Ảnh: Bảo Thắng.
Những "bài báo sống" ngoài cánh đồng
Ông Đông về Viện Nghiên cứu Rau quả năm 1993 sau khi tốt nghiệp Đại học Nông nghiệp I Hà Nội. Sinh năm 1966 trong một gia đình nông dân ở Thái Bình, ông chọn học nông nghiệp với mong muốn giúp người làm ruộng bớt nhọc nhằn. Nhưng thay vì đi vào những cây trồng bảo đảm lương thực, ông lại gắn với hoa, cây cảnh - lĩnh vực khi ấy còn rất mới và chưa được xem là nhu cầu cấp thiết.
Những người đặt câu hỏi về lựa chọn ấy không phải không có lý. Đầu những năm 1990, ưu tiên lớn của nông nghiệp vẫn là đủ ăn. Hoa thường được nhìn như một sản phẩm trang trí, thậm chí xa xỉ chứ chưa phải ngành hàng có thể tạo sinh kế và giá trị kinh tế cao.
Ông Đông nhìn thấy một con đường khác: khi đời sống được nâng lên, con người không chỉ cần lương thực mà còn cần không gian sống đẹp và đời sống tinh thần phong phú. Nếu có giống tốt, công nghệ phù hợp và thị trường, hoa không chỉ để ngắm mà có thể tạo việc làm, làm giàu cho nông dân, hình thành vùng chuyên canh và giảm tiền nhập giống từ nước ngoài.
Ba thập kỷ sau, những hạt sen vào không gian là một trong các dấu mốc cho thấy quãng đường ngành hoa Việt Nam đã đi được. Từ lĩnh vực từng đứng bên lề của nghiên cứu nông nghiệp, hoa, cây cảnh đã bước vào nhà lưới công nghệ cao, vào phòng nuôi cấy mô với hệ thống quản lý bằng cảm biến và những chương trình nghiên cứu có khả năng kết nối với thị trường quốc tế.
Dù vậy, không phải tổ hợp lai nào cũng đi tới cuối con đường. Có những dòng được chăm sóc và ghi chép trong thời gian dài nhưng cuối cùng vẫn phải bỏ vì màu sắc chưa ổn định, khả năng sinh trưởng yếu hoặc không phù hợp với sản xuất hàng hóa. “Mỗi giống hoa mới không thể hình thành trong một hoặc hai vụ”, ông Đông nói. Có kết quả cần nhiều năm mới đánh giá được đầy đủ tính ổn định, khả năng thích nghi và giá trị sử dụng.
PGS.TS Đặng Văn Đông chăm sóc hoa lay ơn ngoài khu ruộng nghiên cứu. Ảnh: Bảo Thắng.
Sự bền bỉ đó đã góp phần tạo nên một kho giống và quy trình kỹ thuật lớn. Theo ông Đông, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Hoa, Cây cảnh (thuộc Viện Nghiên cứu Rau quả) đã nghiên cứu, tuyển chọn và lai tạo nhiều giống thuộc các nhóm lan hồ điệp, lily, lay ơn, cúc, trà, sen cùng nhiều loại cây cảnh khác. Đến nay, đơn vị chọn tạo hơn 100 giống hoa, xây dựng 32 quy trình kỹ thuật và đưa gần 30 giống lan hồ điệp vào sản xuất.
Đáng chú ý, 2 giống lan hồ điệp do Việt Nam chọn tạo đã được chuyển nhượng bản quyền. Giá trị của việc này không chỉ nằm ở khoản tiền thu được mà ở chỗ một giống cây do nhà khoa học trong nước tạo ra bắt đầu được nhìn nhận như tài sản trí tuệ có thể giao dịch.
Trước đó, sản xuất lan hồ điệp Việt Nam phụ thuộc lớn vào nguồn cây giống nhập khẩu. Việc chủ động tạo giống giúp người trồng có thêm lựa chọn phù hợp với khí hậu trong nước, giảm phụ thuộc bên ngoài và mở ra khả năng xây dựng sản phẩm mang bản sắc riêng. Quy trình sản xuất cũng theo đó được hoàn thiện. Từ chỗ nhiều công đoạn dựa vào kinh nghiệm, người sản xuất có thể kiểm soát chu kỳ sinh trưởng của cây trồng chính xác hơn, đặc biệt với những loại hoa phải nở đúng dịp Tết.
Ông Đông đặc biệt ấn tượng với sen bởi có thể tạo ra nhiều lớp giá trị. Ngoài trang trí, sen còn cho hạt, củ, ngó, lá, trà, thực phẩm chế biến và nguyên liệu mỹ phẩm. Những vùng trũng hoặc diện tích cấy lúa hiệu quả thấp có thể được chuyển sang trồng sen, kết hợp phát triển sản phẩm OCOP, du lịch trải nghiệm và bảo tồn cảnh quan nông thôn.
PGS.TS Đặng Văn Đông (giữa) tự hào vì 2 giống lan hồ điệp đã được chuyển nhượng bản quyền. Ảnh: Bảo Thắng.
Các nhà khoa học của Viện Nghiên cứu Rau quả đã cùng người dân cải tạo nhiều vùng đất trũng, tổ chức lại hệ thống mương nước và phân chia khu sản xuất. Những mô hình này bước đầu cho hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều cây trồng truyền thống, tạo cảnh quan và tiền đề phát triển du lịch nông thôn.
Với ông Đông, chính những nhà lưới trồng lan, vườn trà, ruộng sen và vùng hoa được nông dân duy trì mới là thước đo rõ nhất của khoa học ứng dụng. Ông gọi đó là những “bài báo sống” - nơi kết quả nghiên cứu không còn nằm trong hồ sơ nghiệm thu mà biến thành thu nhập của người dân, sản phẩm của doanh nghiệp và diện mạo mới của một vùng quê.
Không thể sống mãi bằng đam mê
Phía sau những mùa hoa ấy là một thực tế ít rực rỡ hơn. Ông Đông từng trải qua những năm cơ sở vật chất thiếu thốn, kinh phí hạn hẹp và nhiều nội dung nghiên cứu phải kéo dài trong điều kiện khó khăn. Có lúc một kết quả đã nghiệm thu nhưng không còn nguồn lực để hoàn thiện. Có giống mới triển vọng nhưng chưa tìm được doanh nghiệp đồng hành. Và điều khiến ông chạnh lòng nhất là nhìn những cán bộ trẻ có năng lực rời Viện vì thu nhập không đủ trang trải cuộc sống.
Sau hơn ba thập kỷ, điều giữ ông ở lại với phòng lab có lẽ vẫn là cảm xúc lúc xuống ruộng, nhìn thấy giống hoa do các nhà khoa học Việt Nam tạo ra đang giúp người dân có thu nhập tốt hơn.
Nhưng ông cũng thẳng thắn rằng không thể mãi yêu cầu nhà khoa học cống hiến chỉ bằng lòng say mê. “Đam mê là điều kiện cần nhưng không thể thay thế tiền lương, phòng thí nghiệm, kinh phí nghiên cứu và một cơ chế sử dụng nhân tài hợp lý”, ông bày tỏ. Muốn giữ người trẻ, các viện phải cho họ thấy một con đường nghề nghiệp đủ ổn định và khả năng sống đủ đầy bằng chuyên môn.
Nhờ hoa, cây cảnh, thu nhập và cuộc sống của nhiều người dân đã tăng đáng kể. Ảnh: Bảo Thắng.
Nút thắt, theo ông không chỉ nằm ở mức lương mà còn là khoảng trống giữa nghiệm thu và thị trường. Một đề tài thường được coi là hoàn thành khi có đủ báo cáo, giống mới, thuyết minh... Nhưng với thị trường, đó mới là điểm bắt đầu.
Một giống hoa sau khi được công nhận còn phải có nguồn cây đầu dòng, hệ thống nhân giống sạch bệnh, thử nghiệm ở nhiều vùng, quy mô sản xuất đủ lớn, thương hiệu, bao bì và mạng lưới phân phối. Viện nghiên cứu thường không có vốn và năng lực kinh doanh để đi hết con đường này. Doanh nghiệp lại muốn nhận một sản phẩm đã hoàn thiện, ít rủi ro và có sẵn khách hàng.
Kết quả là nhà khoa học đã kết thúc nhiệm vụ, nhưng doanh nghiệp chưa muốn bắt đầu, còn sản phẩm nằm lại ở đoạn giữa.
Khoảng trống ấy đặc biệt nguy cơ với ngành hoa, cây cảnh vì thị hiếu thay đổi nhanh. Một màu hoa hoặc dáng cây có thể được ưa chuộng hôm nay nhưng mất sức hút chỉ sau vài năm. Nếu việc định giá, giao quyền và chuyển nhượng giống kéo dài, cơ hội thị trường có thể qua đi trước khi thủ tục hoàn tất.
Để giải bài toán này, ông Đông đề xuất chuyển từ cách “nghiên cứu xong mới tìm nơi chuyển giao” sang nghiên cứu theo đơn đặt hàng và đồng kiến tạo sản phẩm. Doanh nghiệp cần tham gia ngay từ khâu xác định nhu cầu, góp vốn, cung cấp thông tin thị trường, bố trí nơi thử nghiệm và cam kết tiếp nhận khi sản phẩm đạt yêu cầu. Cùng với đó là một hệ sinh thái gồm Nhà nước, viện, trường, doanh nghiệp khoa học công nghệ, các công ty spin-off và quỹ đầu tư.
Nhà nước đầu tư cho nghiên cứu nền tảng, bảo tồn nguồn gen và chia sẻ rủi ro trong giai đoạn đầu. Viện tạo giống và công nghệ. Doanh nghiệp hoàn thiện sản phẩm, tổ chức sản xuất và mở thị trường. Các quỹ tài trợ cho giai đoạn từ sau nghiệm thu tới khi sản phẩm đủ khả năng thương mại hóa - khoảng thời gian thường được gọi là “thung lũng chết” của công nghệ.
Ước tính hằng năm, Viện Nghiên cứu Rau quả cung cấp khoảng 2 triệu cây giống hoa ra thị trường. Ảnh: Bảo Thắng.
Bản thân các viện cũng cần thay đổi. Thay vì để nhà chọn giống tự làm thêm cả định giá tài sản, pháp lý, hợp đồng và tìm khách hàng, mỗi đơn vị phải có bộ phận chuyên nghiệp về sở hữu trí tuệ, thương mại hóa và kết nối doanh nghiệp.
Quan trọng hơn, nhà khoa học phải được hưởng lợi ích tương xứng từ sản phẩm trí tuệ do mình tạo ra. Thu nhập của họ không chỉ đến từ ngạch lương hành chính mà có thể bao gồm tiền bản quyền, chuyển giao công nghệ, tư vấn, dịch vụ khoa học hoặc cổ phần trong doanh nghiệp spin-off.
Khi một giống hoa được bán rộng rãi và tạo doanh thu cho doanh nghiệp, người tạo ra giống ấy phải nhận được một phần giá trị. Với ông Đông, đây không chỉ là câu chuyện tiền bạc mà còn là sự công bằng và động lực để tiếp tục sáng tạo.
169 hạt sen Mặt Bằng ra ngoài không gian hồi năm ngoái đã trở lại phòng nghiên cứu. Các nhà khoa học gieo chúng xuống đất, theo dõi từng mầm cây và tìm kiếm những thay đổi có thể chưa biểu hiện ngay trong thế hệ đầu tiên. Không ai biết thí nghiệm ấy sẽ tạo ra giống mới hay chỉ bổ sung thêm dữ liệu cho những nghiên cứu sau này. Khoa học vốn không bảo đảm mọi hạt giống đều nảy mầm.
Câu chuyện về giống sen Mặt Bằng cho thấy một kết quả nghiên cứu của Việt Nam có thể đi rất xa khi có con người bền bỉ, mục tiêu đủ lớn và một cơ chế giúp tri thức tiếp tục được nuôi dưỡng. Một giống hoa cần đất, nước, ánh sáng và thời gian để nở. Người làm khoa học cũng cần thu nhập đủ sống, môi trường đủ tốt để sáng tạo và cơ chế đủ thông thoáng để kết quả nghiên cứu trở thành tài sản.
Nếu chỉ trông vào đam mê, khoa học có thể vẫn tạo ra một vài mùa hoa. Nhưng để những mùa hoa nối tiếp, những người gieo hạt tri thức phải được sống bằng chính giá trị họ làm ra.
![Nhìn thẳng vào ‘sức khỏe’ nhà khoa học: [Bài 7] Chờ cơ chế đủ rộng](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/resize/174x104/files/anhntk/2026/06/23/1119-dsc00323-nongnghiep-081103.jpeg)
![Nhìn thẳng vào ‘sức khoẻ’ nhà khoa học: [Bài 6] Cần một 'liều thuốc' đủ mạnh](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/resize/174x104/files/benlc/2026/07/12/1618-chatgpt-image-12_15_17-10-thg-7-2026-122814_896.jpeg)
![Nhìn thẳng vào ‘sức khỏe’ nhà khoa học: [Bài 5] Nặng gánh mưu sinh](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/resize/174x104/files/hoaipn88/2026/07/10/2031-dsc_0574jpg-nongnghiep-082022.jpg)
![Nhìn thẳng vào ‘sức khỏe’ nhà khoa học: [Bài 7] Chờ cơ chế đủ rộng](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/256w/files/anhntk/2026/06/23/1119-dsc00323-nongnghiep-081103.jpeg)

![Nhìn thẳng vào ‘sức khỏe’ nhà khoa học: [Bài 7] Chờ cơ chế đủ rộng](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/anhntk/2026/06/23/1119-dsc00323-nongnghiep-081103.jpeg)

![Nhìn thẳng vào ‘sức khỏe’ nhà khoa học: [Bài 6] Cần một 'liều thuốc' đủ mạnh](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/benlc/2026/07/12/1618-chatgpt-image-12_15_17-10-thg-7-2026-122814_896.jpeg)
![Nhìn thẳng vào ‘sức khỏe’ nhà khoa học: [Bài 5] Nặng gánh mưu sinh](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/hoaipn88/2026/07/10/2031-dsc_0574jpg-nongnghiep-082022.jpg)


![Nhìn thẳng vào ‘sức khỏe’ nhà khoa học: [Bài 4] Bươn chải ‘chân trong chân ngoài’](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/tuongdt/2026/07/05/4118-z6770461445774_8c42773c23a8a113490e41c3772cf5ef-143810_411.jpg)
![Nhìn thẳng vào ‘sức khỏe’ nhà khoa học: [Bài 3] Rét run trong ngân hàng gen](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/benlc/2026/07/08/2901-20210901_101217-100306_940.jpg)
![Nhìn thẳng vào ‘sức khỏe’ nhà khoa học: [Bài 2] Chuyện Phòng thí nghiệm trọng điểm](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/benlc/2026/07/07/5846-dsc_0474-073322_439.jpg)

![Nhìn thẳng vào ‘sức khỏe’ nhà khoa học: [Bài 1] Tâm tư ông cựu Viện trưởng](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/benlc/2026/07/06/4051-_dsc2865-071318_463.jpg)
















