Theo PGS.TS Mai Văn Trịnh, Viện trưởng Viện Môi trường Nông nghiệp, Việt Nam có lợi thế diện tích nông nghiệp lớn, lực lượng lao động đông đảo và kinh nghiệm sản xuất tích lũy qua nhiều thế hệ. Đây hoàn toàn có thể trở thành một trụ cột quan trọng trong lộ trình thực hiện mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính quốc gia.
Vùng lúa 7 triệu ha và yêu cầu chuyển đổi phát thải thấp
Theo thống kê, tổng diện tích canh tác của 18 loại cây trồng chính trên cả nước hiện có hơn 9 triệu ha thì riêng cây lúa chiếm khoảng 7 triệu ha. Quy mô này lý giải vì sao, mọi chiến lược giảm phát thải trong nông nghiệp đều không thể bỏ qua cây lúa.
Là một quốc gia tích cực tham gia ứng phó biến đổi khí hậu, Việt Nam đã đưa ra hai cam kết quan trọng. Thứ nhất là mục tiêu giảm phát thải theo Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) giai đoạn đến năm 2030, và đang được cập nhật đến năm 2035. Thứ hai là cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” (Net Zero) vào năm 2050. Để triển khai, nông nghiệp cũng như tất cả các ngành có phát thải lớn phải xây dựng lộ trình và giải pháp cụ thể.
Vùng đồng bằng sông Cửu Long triển khai Đề án 1 triệu ha lúa chuyên canh chất lượng cao, phát thải thấp. Ảnh: Hồng Thắm.
Đề án "Phát triển bền vững một triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đến năm 2030” ra đời trong chính bối cảnh đó. Từ mục tiêu ban đầu là nâng cao chất lượng và giá trị hạt gạo, đề án đã gắn chặt với “phát thải thấp”, bởi sớm hay muộn, ngành lúa gạo cũng phải tham gia vào lộ trình giảm phát thải quốc gia và quốc tế. Thay đổi phương thức canh tác trên hàng triệu hecta lúa sẽ giúp giảm hàng chục triệu tấn CO₂ mỗi năm.
Một thuận lợi lớn của lĩnh vực trồng trọt là nền tảng chính sách tương đối đầy đủ. Từ Chiến lược phát triển ngành trồng trọt đến năm 2030, tầm nhìn 2050; Luật Trồng trọt; các đề án tái cơ cấu ngành đến chương trình bảo vệ sức khỏe đất, Đề án trồng trọt giảm phát thải giai đoạn 2025-2035... Tất cả đều đã xác định rõ mục tiêu giảm phát thải và chuyển đổi sản xuất theo hướng bền vững.
Nông dân tỉnh Sóc Trăng phấn khởi vì trồng lúa giảm phát thải giúp giảm chi phí, lợi nhuận tăng. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.
Trong nhiều năm nghiên cứu và bám sát thực địa, Viện Môi trường Nông nghiệp đã nhận thấy vấn đề có tính then chốt: Trọng tâm không phải là đưa ra những kỹ thuật hoàn toàn mới, mà là nắn chỉnh, chuẩn hóa và hướng dẫn lại các thực hành sẵn có theo đúng quy trình khoa học. Khi người dân hiểu rõ vì sao phải rút nước vào thời điểm này, phơi ruộng trong bao nhiêu ngày, quản lý mực nước ra sao để rễ lúa thực sự được tiếp oxy, thì hiệu quả giảm phát thải mới được đảm bảo.
Trong 2 năm 2024-2025, Viện Môi trường Nông nghiệp đã triển khai 11 mô hình mẫu tại các tỉnh ĐBSCL, trong đó có 2 mô hình cùng xây dựng với Viện lúa quốc tế IRRI, nhằm kiểm chứng tính chuẩn xác của quy trình và tiếp tục điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam.
Mở đường cho tín chỉ carbon lúa gạo
Có thể nói, một trong những điểm tựa quan trọng giúp các mô hình canh tác lúa phát thải thấp sớm được nhân rộng chính là đặc thù tổ chức sản xuất của ngành lúa gạo Việt Nam.
Khác với nhiều loại cây trồng khác, sản xuất lúa gắn chặt với hệ thống thủy nông và vai trò điều phối của hợp tác xã. Khi lịch rút nước được thống nhất ở cấp hợp tác xã, toàn bộ cánh đồng sẽ triển khai đồng loạt theo một nhịp chung. Cách làm này không chỉ tạo sự đồng đều trong canh tác mà còn nâng cao hiệu quả thực hiện và thuận lợi cho công tác giám sát. Với hệ thống thủy lợi tương đối đồng bộ ở nhiều vùng sản xuất lúa trọng điểm, việc áp dụng tưới ngập - khô xen kẽ theo lịch chung hoàn toàn khả thi.
Tuy nhiên, theo PGS.TS Mai Văn Trịnh, mọi nỗ lực giảm phát thải sẽ khó đi đến đích nếu thiếu một hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm định (MRV) đủ tin cậy. Khí nhà kính như CO₂, CH₄ hay N₂O đều không màu, không mùi (khí CH4 có mùi hôi nhưng ngoài đồng với nồng độ nhỏ thì khó phát hiện), không thể “nhìn thấy” hay “cân đong” trực tiếp. Muốn xác định ruộng lúa phát thải bao nhiêu, giảm được bao nhiêu, bắt buộc phải dựa vào phương pháp khoa học và hệ thống số liệu chuẩn xác.
Trong canh tác lúa, các nhà khoa học sử dụng buồng kín đặt trên ruộng để thu khí, đo nồng độ phát thải trong những khoảng thời gian nhất định để đo bằng máy sắc kí khí, sau đó quy đổi ra lượng phát thải trên đơn vị diện tích và sản phẩm.
Trên cơ sở đó, Viện Môi trường Nông nghiệp đã phối hợp với các chuyên gia quốc tế xây dựng hệ thống MRV phù hợp với điều kiện Việt Nam, bám sát hướng dẫn của IPCC cũng như các tiêu chuẩn tín chỉ carbon uy tín trên thế giới như Verra hay Tiêu chuẩn Vàng. Việc Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Quyết định số 4801/QĐ-BNNMT ngày 14/11/2025 về quy trình thí điểm MRV trong canh tác lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại ĐBSCL được xem là bước đi quan trọng, đặt nền móng cho quá trình hoàn thiện bộ công cụ này.
Các nhà khoa học sử dụng buồng kín đặt trên ruộng để thu khí, đo nồng độ phát thải. Ảnh: Phùng Lương.
Theo lộ trình, ngay trong năm 2026, quy trình MRV sẽ được áp dụng thí điểm trên khoảng 16 nghìn ha lúa tại ĐBSCL, trong tổng diện tích mà các địa phương đã đăng ký canh tác bền vững. Viện Môi trường Nông nghiệp cùng các cơ quan quản lý chuyên ngành sẽ thành lập các tổ công tác để giám sát việc triển khai tại địa phương.
Cốt lõi của MRV nằm ở việc xác định đúng đường phát thải cơ sở và theo dõi chính xác các biện pháp giảm phát thải mà nông dân thực hiện, từ quản lý nước, sử dụng phân bón đến xử lý rơm rạ. Điều này đòi hỏi nông dân và cán bộ kỹ thuật phải ghi chép đầy đủ, trung thực các dữ liệu sản xuất. Chính vì vậy, quy trình MRV được thiết kế theo hướng đơn giản, dễ hiểu, dễ làm, hạn chế phụ thuộc vào các thiết bị công nghệ cao, chi phí lớn.
Thực tế triển khai cho thấy, cách tiếp cận này lại giúp cán bộ kỹ thuật MRV ở cơ sở chủ động hơn trong việc tiếp cận kiến thức, giải thích cho nông dân và lan tỏa các thực hành giảm phát thải. Sau hai năm thí điểm, nhiều cán bộ đã làm quen, thực hiện thuần thục và tỏ ra hào hứng khi nhìn thấy kết quả rõ ràng trên đồng ruộng.
Viện Môi trường Nông nghiệp cũng đang từng bước xây dựng hệ thống MRV số, cho phép cán bộ địa phương nhập dữ liệu trực tiếp lên phần mềm và thay thế dần hồ sơ giấy. Trong thời gian tới, Bộ Nông nghiệp và Môi trường dự kiến sẽ ban hành quy trình MRV chính thức để áp dụng thống nhất trên phạm vi cả nước.
Nhìn rộng hơn, theo PGS.TS Mai Văn Trịnh, hệ thống MRV không chỉ phục vụ yêu cầu báo cáo hay kiểm kê, mà còn là “chìa khóa” để huy động nguồn lực đầu tư cho giảm phát thải. MRV càng minh bạch, đáng tin cậy thì khả năng thu hút tài chính khí hậu cho các địa phương và ngành hàng càng lớn.
Phát huy nội lực quốc gia để đi đường dài
Trong bối cảnh Việt Nam đi sau nhiều quốc gia về giảm phát thải và phát triển thị trường carbon, việc lựa chọn nông nghiệp - ngành kinh tế trụ cột gắn liền với sinh kế của hàng chục triệu người - làm động lực chuyển đổi có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nâng cao giá trị của sản phẩm nông nghiệp cũng chính là nâng cao thu nhập cho nông dân, nâng tầm vị thế nông sản Việt Nam và xây dựng thương hiệu phát thải thấp trên thị trường toàn cầu.
Về lâu dài, theo Đề án trồng trọt phát thải thấp, MRV sẽ được triển khai trên tất cả các cây trồng. Bộ đã giao Viện xây dựng hệ thống MRV cho từng loại cây, trước mắt ưu tiên các cây chủ lực có tổng phát thải lớn như lúa, ngô, mía, chè, cà phê, sắn. Đồng thời, xem xét các cây xuất khẩu mạnh như hồ tiêu, điều, sầu riêng, chuối... bởi dù lượng phát thải không cao bằng lúa, các mặt hàng này có thể chịu sức ép cạnh tranh thương mại về cường độ phát thải trong tương lai.
Tháng 6/2025, VIETRISA và Công ty Trung An tổ chức lễ xuất khẩu lô hàng "Gạo Việt xanh phát thải thấp" đầu tiên sang Nhật Bản. Ảnh: TAR.
Thách thức đặt ra, đó là các yêu cầu MRV phục vụ kiểm kê khí nhà kính, thực hiện NDC, mục tiêu Net Zero và thị trường carbon có mức độ chi tiết khác nhau. Điều này đòi hỏi phải xây dựng nhiều cấp độ MRV, khiến người dân và cán bộ cơ sở cần thời gian để hiểu và thực hiện thống nhất.
Việt Nam là một trong rất ít quốc gia xây dựng hệ thống MRV riêng cho lúa gạo, bởi quá trình này đòi hỏi nhiều thí nghiệm đo đạc để xác định hệ số phát thải phù hợp với từng vùng sinh thái và loại đất. Chẳng hạn, tại ĐBSCL, Viện cần xác định khoảng 10 tổ hợp của tiểu vùng sinh thái và loại đất. Khi thửa ruộng nằm trong vùng nào, hệ số phát thải sẽ được lấy theo đơn vị tổ hợp đó. Mỗi giải pháp lại có hệ số điều chỉnh khác nhau, tạo thành một bộ hệ số thống nhất để áp dụng đồng bộ, thống nhất trên toàn quốc.
Đây là vấn đề bắt buộc phải giải quyết nhằm đơn giản hóa quá trình xây dựng phương pháp luận, tạo điều kiện triển khai các dự án tín chỉ carbon trên diện rộng với chi phí thấp hơn, thay vì chỉ dừng ở các mô hình thí điểm nhỏ lẻ. Nếu làm được với lúa gạo, đây sẽ là kinh nghiệm triển khai cho các ngành hàng trồng trọt khác.
Khi các thực hành canh tác phát thải thấp được chuẩn hóa, hạt lúa Việt Nam không chỉ mang theo giá trị kinh tế mà còn hàm chứa giá trị môi trường, khẳng định vai trò của nông nghiệp Việt Nam trong hành trình phát triển xanh, bền vững.
Hỏi nhanh - đáp ngắn về trồng lúa giảm phát thải
Trong cuộc trò chuyện với Báo Nông nghiệp và Môi trường, PGS.TS Mai Văn Trịnh đã trả lời một số câu hỏi ngắn giúp độc giả hiểu đúng về trồng lúa giảm phát thải.
PGS.TS Mai Văn Trịnh, Viện trưởng Viện Môi trường Nông nghiệp. Ảnh: Trung Nguyên
- Vì sao cây lúa được xem là “điểm nóng” phát thải trong nông nghiệp Việt Nam?
Vì lúa chiếm khoảng 7 triệu ha, canh tác chủ yếu theo phương thức lúa nước, phát sinh nhiều khí CH₄. Phát thải từ lúa chiếm tới khoảng 70% tổng phát thải khí nhà kính của toàn ngành nông nghiệp.
- Giảm phát thải trong sản xuất lúa có đồng nghĩa với giảm năng suất?
Không. Thực tế cho thấy, khi áp dụng đúng kỹ thuật giảm phát thải, năng suất vẫn được giữ ổn định, thậm chí tăng, trong khi chi phí giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật giảm rõ rệt.
- Biện pháp kỹ thuật nào mang lại hiệu quả giảm phát thải lớn nhất trên ruộng lúa?
Tưới ngập - khô xen kẽ (AWD). Chỉ cần rút nước giữa vụ một lần có thể giảm khoảng 29% phát thải; rút nước hai lần, mức giảm có thể lên tới 45%.
- Vì sao AWD không phải là kỹ thuật xa lạ với nông dân?
Vì nhiều vùng đã có tập quán phơi ruộng từ hàng chục năm trước. Vấn đề không phải “làm mới”, mà là làm đúng thời điểm, đủ thời gian mặt ruộng khô 3 ngày và đúng kỹ thuật.
- Rút nước không đúng cách có rủi ro gì?
Nếu rút nước không đủ khô tầng rễ, hoặc để ruộng “sáng khô, chiều ngập”, hiệu quả giảm phát thải sẽ rất thấp, thậm chí ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây lúa.
- Ngoài quản lý nước, còn biện pháp nào giúp giảm phát thải hiệu quả?
Điều chỉnh lượng phân bón và mật độ gieo sạ. Chỉ cần đưa lượng phân về đúng ngưỡng khuyến cáo có thể giảm tới 70% phát thải N₂O.
Một biện pháp khác là quản lý rơm rạ. Nếu cày vùi rơm rạ tươi sau khi thu hoạch dưới 30 ngày, phát thải khí mê-tan có thể giảm tới 81%. Nếu rơm rạ được thu gom để ủ compost, mức giảm phát thải có thể đạt khoảng 83%.
- Kết quả thực tế từ các mô hình thí điểm cho thấy điều gì?
Trung bình giảm khoảng 4,6 tấn CO₂tđ/ha/vụ, có nơi đạt 7-8 tấn CO₂tđ/ha. Nông dân giảm chi phí, lợi nhuận tăng, năng suất ổn định.
- Giảm phát thải có thể chuyển hóa thành giá trị kinh tế không?
Có, thông qua tín chỉ các-bon. Ruộng lúa có thể trở thành nguồn tạo tín chỉ nếu chứng minh được lượng phát thải giảm.
- Ý nghĩa lớn nhất của lúa giảm phát thải là gì?
Không chỉ giảm phát thải để đạt Net Zero, mà còn nâng giá trị hạt gạo, tăng thu nhập cho nông dân và xây dựng thương hiệu “gạo Việt xanh” trên thị trường quốc tế.
Mô hình sản xuất lúa giảm phát thải thực hiện tại xã Vĩnh Thủy (Quảng Trị) vụ đông xuân 2025. Ảnh: Tâm Phùng.
Tưới ngập khô xen kẽ giúp ruộng lúa giảm phát thải khí metan, tạo nền tảng vững chắc cho sản xuất lúa bền vững, là cơ sở cho việc hình thành tín chỉ carbon.
Việt Nam đang từng bước hình thành thị trường các-bon như một công cụ quan trọng để kiểm soát phát thải, huy động tài chính xanh và thúc đẩy doanh nghiệp chuyển đổi bền vững.
Rừng ngập mặn Cần Giờ có tiềm năng tín chỉ các-bon rất lớn, nhưng để phát huy tiềm năng này, cần phải làm tốt công tác bảo tồn và nâng cao chất lượng rừng.
Biến đổi khí hậu ngày càng tác động sâu rộng đến đời sống. Trước thách thức đó, Thanh Hóa đang chủ động triển khai nhiều giải pháp nhằm thích ứng và hướng tới phát triển.
Trong giai đoạn thí điểm thị trường các-bon nội địa từ nay đến năm 2028, doanh nghiệp sẽ được phân bổ hạn ngạch miễn phí để làm quen với các cơ chế thị trường.
Nghị quyết số 253/2025/QH15 do Quốc hội vừa ban hành đã quy định các cơ chế, chính sách đặc thù để thúc đẩy phát triển điện lực, đặc biệt là năng lượng sạch.
Thị trường các-bon tạo điều kiện cho doanh nghiệp lựa chọn kết hợp nhiều phương án khác nhau để tuân thủ quy định giảm phát thải, tránh cú sốc tài chính trong giai đoạn đầu.
VWS sẵn sàng phối hợp cùng TP.HCM và Sở Nông nghiệp Môi trường trong tiếp nhận và xử lý rác vào giờ cao điểm, ngoài giờ từ ngày 1/12/2025 khi có yêu cầu.
Nền tảng Quản trị hành vi xanh VNNETZERO là giải pháp công nghệ lõi của sáng kiến Trường học sinh thái, được phát triển bởi nhóm chuyên gia Đại học Quốc gia Hà Nội.
UBND tỉnh Thanh Hóa vừa ban hành Quyết định phê duyệt dự án khẩn cấp khắc phục hậu quả thiên tai công trình cầu Mọ, bắc qua sông Cầu Chày, xã Xuân Tín.