Trao đổi với Báo Nông nghiệp và Môi trường, PGS. TS. Nguyễn Đức Toàn, Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho rằng, 7 năm triển khai Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam là con đường chuyển đổi tư duy, định hướng phát triển của cả hệ thống chính trị trong công tác quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo để phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam. Qua đó, chúng ta đã xác lập rõ biển là không gian phát triển chiến lược của quốc gia, gắn chặt giữa kinh tế - môi trường - quốc phòng, an ninh và đối ngoại.
PGS. TS. Nguyễn Đức Toàn cho rằng, trong giai đoạn tới kinh tế biển phải kiên định mục tiêu phát triển bền vững, gắn tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Ảnh: Trường Giang.
Xác lập rõ biển là không gian phát triển chiến lược của quốc gia
Thưa ông, nhìn lại 7 năm triển khai Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam, ông đánh giá như thế nào về những kết quả nổi bật nhất?
Để thực hiện Nghị quyết 36-NQ/TW, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 26/NQ-CP để triển khai cụ thể. Trong Kế hoạch tổng thể và Kế hoạch 5 năm, Chính phủ đã giao 51 nhiệm vụ, đề án trọng tâm, đồng thời bố trí trên 119 nghìn tỷ đồng vốn đầu tư công trung hạn cho các dự án hạ tầng lớn, có tính liên vùng, liên kết ven biển.
Về những kết quả đạt được, tôi muốn lượng hóa bằng những con số. Kinh tế của các tỉnh, thành phố ven biển hiện đóng góp xấp xỉ 50% GDP cả nước; xuất khẩu thủy sản tăng từ 8,8 tỷ USD năm 2018 lên trên 10 tỷ USD năm 2024; ngành dầu khí tiếp tục đóng góp trên 8% tổng thu ngân sách nhà nước. Du lịch biển giữ vai trò chủ lực, tạo động lực phát triển cho hàng loạt đô thị ven biển từ Bắc vào Nam; năng lượng tái tạo, đặc biệt là điện gió ngoài khơi có tiềm năng hàng đầu khu vực.
Đặc biệt, công tác điều tra cơ bản và quản lý biển đã có bước tiến rõ rệt. Đến hết năm 2024, chúng ta đã hoàn thành hải đồ khoảng 82% diện tích vùng biển Việt Nam ở tỷ lệ 1:200.000 và 38,75% diện tích vùng biển được khảo sát tổng hợp tài nguyên, môi trường ở tỷ lệ 1:500.000, xây dựng cơ sở dữ liệu không gian cho 61 đảo trọng yếu và 21 đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Đây không chỉ là dữ liệu khoa học, mà còn là nền tảng trực tiếp phục vụ quy hoạch, phát triển kinh tế và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển.
Kinh tế của các tỉnh, thành phố ven biển hiện đóng góp xấp xỉ 50% GDP cả nước. Ảnh: Kim Anh.
Trong quá trình triển khai Nghị quyết 36, vai trò của công tác quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo được đặt ra như thế nào, thưa ông?
Tôi khẳng định đây là vấn đề mang tính cốt lõi. Biển là không gian đa mục tiêu, đa ngành, nếu không quản lý theo phương thức tổng hợp, thì rất dễ xảy ra chồng lấn, xung đột và lãng phí nguồn lực. Thực tiễn cho thấy, ở đâu làm tốt quản lý tổng hợp, gắn quy hoạch không gian biển với quy hoạch ngành, quy hoạch địa phương, thì ở đó hiệu quả sử dụng tài nguyên biển cao hơn và môi trường được bảo vệ tốt hơn.
Trong 7 năm qua, chúng tôi tập trung hoàn thiện các công cụ quản lý tổng hợp, từ điều tra cơ bản, xây dựng cơ sở dữ liệu, đến tham mưu xây dựng Quy hoạch không gian biển quốc gia và Quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ. Đây là những công cụ rất quan trọng để các bộ, ngành và địa phương có biển cùng nhìn vào một không gian chung, cùng tuân thủ những nguyên tắc chung khi phát triển kinh tế biển.
Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy một số chỉ tiêu của Nghị quyết 36 chưa đạt kỳ vọng. Ông nhìn nhận những hạn chế này ra sao?
Bên cạnh những kết quả đạt được, tôi cho rằng vẫn còn nhiều mục của Nghị quyết 36 đặt ra vẫn chưa đạt được như mong muốn. Tỷ trọng GRDP của các tỉnh ven biển trong GDP cả nước chưa tương xứng với tiềm năng; thu nhập bình quân đầu người và chỉ số phát triển con người của nhiều địa phương ven biển cần nâng cao hơn so với mặt bằng chung.
Các hệ sinh thái biển quan trọng tiếp tục bị suy thoái; diện tích khu bảo tồn biển mới đạt khoảng 1,85% diện tích biển, trong khi mục tiêu đến năm 2030 là tối thiểu 6%. Khoa học, công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao về biển chưa thực sự trở thành động lực then chốt. Hạ tầng ven biển, nhất là logistics và giao thông kết nối, còn thiếu đồng bộ.
Nguyên nhân có nhiều, nhưng tôi nhấn mạnh ba điểm: Thứ nhất, thể chế còn thiếu tính đột phá, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, nhất là các chính sách về sử dụng không gian biển, thu hút đầu tư tư nhân và quốc tế. Thứ hai, cơ chế điều phối liên ngành, liên vùng cần tiếp tục được tăng cường, chưa theo kịp thực tiễn quản lý không gian biển rộng lớn, đa mục tiêu. Thứ ba, nguồn lực đầu tư cho kinh tế biển chưa tương xứng với vai trò và tiềm năng của biển.
Chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và tháo gỡ điểm nghẽn thể chế
Tại Diễn đàn Phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam năm 2025 mới đây, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà cho rằng, Nghị quyết 36-NQ/TW vẫn còn nguyên giá trị song cần cập nhật phù hợp bối cảnh mới, nhất là khi cả nước đang chuẩn bị cho Đại hội lần thứ XIV của Đảng. Hai xu thế chuyển đổi số và chuyển đổi xanh sẽ là "sợi chỉ đỏ" xuyên suốt. Ông nhận định về định hướng này ra sao?
Giai đoạn tới, phát triển kinh tế biển cần được đặt trong bối cảnh mới của chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, kinh tế tuần hoàn và hội nhập quốc tế sâu rộng.
Tôi cho rằng, nếu không dựa vào khoa học – công nghệ và chuyển đổi số thì rất khó nói đến kinh tế biển hiện đại. Từ công tác điều tra cơ bản, quan trắc môi trường, dự báo thiên tai, đến quản lý không gian biển, giám sát hoạt động khai thác, tất cả đều cần dữ liệu lớn và công nghệ hiện đại.
Thời gian qua, chúng tôi đã từng bước xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu biển và hải đảo quốc gia, kết nối, chia sẻ với các bộ, ngành và địa phương có biển. Giai đoạn tới, nhiệm vụ đặt ra là phải đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, viễn thám trong quản lý biển, qua đó nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và giảm chi phí cho doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, chuyển đổi xanh là điểm then chốt để phát triển bền vững kinh tế biển. Việc khai thác tiềm năng điện gió ngoài khơi, nghiên cứu tiềm năng hydro xanh hay tăng hấp thụ carbon từ biển… sẽ càng củng cố hơn vai trò của biển trong không gian phát triển chiến lược của quốc gia.
Với chuyển đổi số và chuyển đổi xanh được xác định là hai trục xuyên suốt, theo ông, những lĩnh vực và không gian nào cần được ưu tiên để kinh tế biển phát huy lợi thế và tạo động lực phát triển mới?
Trước hết, phải kiên định mục tiêu phát triển bền vững, gắn tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái và bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Về các ngành kinh tế, cần tập trung vào các lĩnh vực có lợi thế so sánh và khả năng tạo đột phá như: kinh tế hàng hải và logistics; du lịch biển chất lượng cao; nuôi biển công nghiệp; năng lượng tái tạo, đặc biệt là điện gió ngoài khơi; công nghiệp ven biển gắn với đổi mới sáng tạo; các ngành kinh tế biển mới dựa trên khoa học công nghệ.
Về không gian, cần phát triển đồng bộ các hành lang kinh tế ven biển, các chuỗi đô thị biển, đảo, gắn kết chặt chẽ với nội địa và khu vực. Quy hoạch không gian biển quốc gia phải thực sự trở thành công cụ điều phối phát triển, tránh xung đột lợi ích và sử dụng kém hiệu quả tài nguyên biển.
Để không gian biển thực sự trở thành động lực quan trọng, mở ra dư địa và không gian mới cho phát triển kinh tế, vấn đề cần tháo gỡ đầu tiên có phải là “điểm nghẽn” thể chế, chính sách, thưa ông?
Hoàn thiện thể chế phải được xem là ưu tiên đầu tiên để tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông dòng chảy kinh tế biển. Trước hết, cần tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật liên quan đến tài nguyên, môi trường biển và hải đảo cho phù hợp với yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Đặc biệt, cần sớm hoàn thiện chính sách quy định về giao, cho thuê, thế chấp, chuyển nhượng quyền sử dụng khu vực biển; cơ chế bồi thường khi Nhà nước thu hồi khu vực biển; cơ chế khuyến khích đầu tư tư nhân và quốc tế vào các ngành kinh tế biển mới, được ưu tiên. Hiện nay, Bộ đang phối hợp với các cơ quan liên quan tổng kết Nghị quyết số 36-NQ/TW làm cơ sở để sửa đổi, bổ sung Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015.
Phát triển kinh tế biển phải dựa trên quy hoạch, dựa trên khoa học công nghệ và thể chế minh bạch, hiệu lực, hiệu quả. Ảnh: Hồng Thắm
Mở cánh cửa vươn ra biển lớn
Việc tổ chức chính quyền địa phương hai cấp được xem là bước chuyển lớn. Theo ông, điều này mở ra cơ hội hay đặt ra thách thức nhiều hơn cho quản lý biển, đảo và không gian ven biển?
Việc tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp và sắp xếp, sáp nhập đơn vị hành chính là chủ trương lớn, có tác động sâu rộng đến quản trị phát triển, trong đó có kinh tế biển. Chúng ta từ 28/63 địa phương có biển thành 21/34 tỉnh, thành có biển với 311/3321 cấp xã có biển.
Ở góc độ tích cực, đây là cơ hội để mở rộng không gian phát triển, tăng quy mô nguồn lực, giảm manh mún trong quy hoạch và đầu tư, nhất là đối với các dự án hạ tầng ven biển, cảng biển, khu kinh tế, khu công nghiệp.
Tuy nhiên, điều này cũng đặt ra yêu cầu rất cao về năng lực quản lý tổng hợp biển ở cấp địa phương. Khi địa giới hành chính thay đổi, nếu không có cơ chế điều phối tổng hợp, nguy cơ thiếu đồng bộ trong quản lý không gian biển, vùng bờ là hiện hữu. Do đó, cần sớm hoàn thiện các quy định phân cấp, phân quyền rõ ràng, đồng thời tăng cường vai trò điều phối của Trung ương trong những vấn đề liên ngành, liên vùng.
Quan trọng hơn, phải bảo đảm rằng dù tổ chức bộ máy thay đổi, chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo luôn được quan tâm, củng cố theo hướng tinh gọn nhưng hiệu lực, hiệu quả.
Cuộc cách mạng vừa qua về sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính đã tạo ra không gian phát triển mới, dựa trên sự kết nối giữa các vùng miền. Mục tiêu là bảo đảm từ vùng sâu, vùng xa đều có "cánh cửa" để vươn ra biển, mở rộng không gian phát triển của đất nước, giúp giải quyết bài toán kết nối thông suốt giữa vùng núi và vùng biển, giữa khu vực xa, khó khăn và các vùng phát triển.
Bước sang giai đoạn mới, ông kỳ vọng điều gì để kinh tế biển thực sự trở thành động lực phát triển bền vững của đất nước?
“Năm mới 2026 sẽ mở ra kỳ vọng về một giai đoạn phát triển quyết liệt và hiệu quả hơn, nơi tiềm năng biển được đánh thức bằng quản trị hiện đại và hành động thực chất”, PGS. TS. Nguyễn Đức Toàn nói.
Tôi mong các ngành, các địa phương có biển tiếp tục quán triệt sâu sắc tinh thần Nghị quyết 36, coi phát triển bền vững kinh tế biển là nhiệm vụ chiến lược trọng tâm, lâu dài. Phát triển phải dựa trên quy hoạch, dựa trên khoa học công nghệ và thể chế minh bạch, hiệu lực, hiệu quả.
Nếu làm được điều đó, tôi tin rằng kinh tế biển sẽ thực sự trở thành động lực quan trọng, góp phần đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, phát triển bền vững, gắn với bảo vệ vững chắc chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển.
Xin trân trọng cảm ơn ông!


![Năng lượng mới trên biển: [Bài 3] Cần khung pháp lý đồng bộ](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/tanbtn/2025/12/16/4534-t114-151904_761.jpg)
![Năng lượng mới trên biển: [Bài 2] Bứt phá với điện gió ngoài khơi](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/giangdt83/2025/11/28/0838-dji_0672-nongnghiep-150833.jpg)










