Tiềm năng lớn nhưng không thể bán ngay
Việt Nam nắm giữ lợi thế hiếm có trong lộ trình tăng trưởng xanh - tài nguyên rừng. Với hơn 14,8 triệu ha rừng, trong đó 4,7 triệu ha rừng trồng và hơn 10,1 triệu ha rừng tự nhiên, lâm nghiệp trở thành lĩnh vực duy nhất trong nền kinh tế có khả năng hấp khí nhà kính hay còn gọi phát thải ròng âm. Đây cũng là trụ cột quan trọng trong thực hiện Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) và thực thi cam kết phát thải ròng bằng 0 mà Việt Nam đưa ra tại COP26.
Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm Phạm Hồng Lượng. Ảnh: Bảo Thắng.
Các tính toán cho thấy, giai đoạn 2010-2020, rừng Việt Nam hấp thụ khoảng 70 triệu tấn CO₂, trong khi phát thải vào khoảng 30 triệu tấn. Chênh lệch này tương đương gần 40 triệu tấn CO₂ (tín chỉ) được hấp thụ ròng. Con số đó cho thấy quy mô, tiềm năng của carbon rừng trong đóng góp để đạt được mục tiêu giảm phát thải và huy động nguồn lực tài chính mới cho tăng trưởng xanh. Tuy nhiên, theo ông Phạm Hồng Lượng, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, chính từ con số lớn này đã nảy sinh không ít cách hiểu chưa đúng. “Khả năng lưu giữ và hấp thụ carbon của rừng không đồng nghĩa với việc có thể mang lượng carbon đó đi bán hoặc chuyển nhượng ngay”, ông nói.
Cách hiểu phổ biến hiện nay là coi carbon rừng như một loại “tài nguyên sẵn có”. Có rừng thì có carbon. Đo đếm xong là có thể giao dịch được ngay. Trên thực tế, các cơ chế định giá và thị trường carbon quốc tế không vận hành theo logic đó. Nguyên tắc cốt lõi chi phối mọi giao dịch là tính bổ sung. Chỉ phần giảm phát thải hoặc tăng hấp thụ vượt lên trên kịch bản thông thường, trong quá trình thực hiện dự án carbon, mới được đăng ký, báo cáo, thẩm định (MRV) và công nhận là kết quả có thể giao dịch.
Với rừng tự nhiên, nếu không có biện pháp can thiệp, rừng tiếp tục sinh trưởng và hấp thụ carbon theo quy luật sinh thái tự nhiên. Phần hấp thụ “mặc định” này không được coi là tín chỉ. Chỉ khi có các giải pháp quản lý rừng bền vững, như nâng cao chất lượng rừng, bảo tồn đa dạng sinh học, phục hồi rừng tự nhiên bị suy thoái hay nâng cao năng suất, chất lượng trồng rừng gỗ lớn, kéo dài chu kỳ, thời gian sinh trưởng, thì phần gia tăng mới được ghi nhận là kết quả giảm phát thải bổ sung.
Ranh giới này mang tính kỹ thuật, nhưng quyết định giá trị kinh tế của carbon rừng. Theo Phó Cục trưởng Phạm Hồng Lượng, carbon rừng không phải là loại hàng hóa hình thành một cách tự nhiên rồi đem ra thị trường, mà là sản phẩm của quá trình quản lý có chủ đích.
“Phải có dự án, có MRV và được bên thứ ba công nhận đảm bảo tính toàn vẹn thì mới nói đến tín chỉ carbon”, ông Lượng nhấn mạnh.
Bên cạnh yêu cầu về tính bổ sung, tính toán không trùng lặp, carbon rừng còn chịu ràng buộc bởi thực hiện nghĩa vụ, cam kết quốc gia về khí hậu. Việt Nam đã cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Trong lộ trình đó, lâm nghiệp được xác định là lĩnh vực đóng góp quan trọng cho mục tiêu chung. Điều này đồng nghĩa, rằng không phải toàn bộ lượng carbon hấp thụ đều có thể đưa ra thị trường, mà một phần phải thực hiện nghĩa vụ NDC quốc gia.
Theo quy định đang xây dựng, kết quả giảm phát thải từ rừng trước hết phải được phân bổ để thực hiện NDC quốc gia. Chỉ phần còn lại, sau khi đã trừ đi nghĩa vụ đóng góp, mới có thể xem xét, trao đổi hoặc chuyển nhượng. Nguyên tắc này nhằm bảo đảm, hoạt động giao dịch carbon trong lĩnh vực lâm nghiệp cùng với các ngành khác không làm suy giảm năng lực thực hiện cam kết quốc tế của Việt Nam.
Quy trình nghiêm ngặt để tạo tín chỉ carbon
Việc chuyển hóa carbon rừng từ tiềm năng sinh học sang giá trị kinh tế đòi hỏi chuỗi quy trình chặt chẽ. Trước hết là xây dựng dự án carbon rừng theo tiêu chuẩn trong nước hoặc quốc tế. Dự án phải xác định rõ hiện trạng rừng, kịch bản cơ sở, biện pháp can thiệp và lượng giảm phát thải dự kiến. Đây là bước đặt nền móng để phân biệt giữa hấp thụ “tự nhiên” và hấp thụ “bổ sung”. Tiếp theo là quá trình MRV. Dữ liệu về sinh khối, trữ lượng carbon, biến động rừng phải được thu thập theo phương pháp thống nhất, minh bạch và có thể kiểm chứng. Kết quả này được một tổ chức thẩm định độc lập trước khi công nhận là kết quả giảm phát thải hoặc tín chỉ carbon rừng. Không có quy trình này, carbon rừng sẽ không được thừa nhận và không thể tham gia thị trường.
Việt Nam hiện có hơn 14,8 triệu ha rừng. Ảnh: Cục LN&KL.
Quy trình kỹ thuật phức tạp cũng phản ánh một thực tế, carbon rừng là giá trị hình thành, tích luỹ theo thời gian. Rừng là hệ sinh thái động, nếu không được quản lý bền vững có thể dẫn tới hiện trượng rò rỉ carbon hoặc đảo nghịch phát thải, điều này có nghĩa, trữ lượng carbon có thể biến động do cháy rừng, thiên tai, dịch bệnh, khai thác không bền vững hoặc thay đổi trong quản lý. Nếu cam kết bán tín chỉ nhưng không duy trì được trữ lượng trong suốt chu kỳ dự án, rủi ro pháp lý và tài chính là rất lớn.
Đối với rừng trồng, rủi ro này càng rõ. Nếu khai thác theo chu kỳ ngắn hoặc khai thác trắng, lượng carbon phát thải ra khí quyển có thể xấp xỉ hoặc vượt quá lượng đã hấp thụ. Khi đó, lợi ích từ tín chỉ carbon bị triệt tiêu, thậm chí tạo ra phát thải dương (phát thải nhiều hơn hấp thụ). Theo ông Lượng, đây là lý do ngành lâm nghiệp luôn gắn carbon rừng với quản lý rừng bền vững. “Muốn có carbon rừng, trước hết phải có rừng được quản lý tốt”, ông nói.
Dù không phải dạng tài nguyên “có thể bán ngay”, kỳ vọng về carbon rừng không bị suy giảm, trái lại, đây là cách lật ngược vấn đề, tiếp cận theo đúng bản chất. Carbon rừng là nguồn lực có điều kiện, chỉ được hình thành khi đáp ứng đồng thời yêu cầu đảm bảo an toàn sinh thái, tuân thủ hướng dẫn kỹ thuật và thực hiện nghĩa vụ quốc gia.
Nếu được xây dựng bài bản, carbon rừng có thể trở thành nguồn tài chính bổ sung cho bảo vệ, phát triển rừng, đồng thời nâng cao vai trò của người dân và chủ rừng trong quản lý tài nguyên. Nhưng nếu tiếp cận nóng vội, coi carbon như “mỏ tài nguyên”, lợi ích ngắn hạn có thể phải đánh đổi bằng rủi ro dài hạn cho cả các vấn đề về môi trường, xã hội và thực thi cam kết chính trị về khí hậu của Việt Nam.
Từ thí điểm Bắc Trung Bộ đến khung pháp lý quốc gia
Nguồn lực từ carbon rừng đã được kiểm chứng bằng thực tiễn, thông qua việc thực hiện thí điểm Thoả thuận chi trả và chuyển nhượng kết quả giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ. Giai đoạn 2018-2024, Việt Nam triển khai Thỏa thuận chi trả giảm phát thải (ERPA) cho các tỉnh Bắc Trung Bộ, với đối tác là Quỹ Đối tác Carbon lâm nghiệp của Ngân hàng Thế giới.
Từ năm 2022, từ ERPA, Việt Nam đã chuyển nhượng 2 đợt, với tổng khối lượng 11,3 triệu tấn CO₂ và tổng giá trị 56,5 triệu USD. Toàn bộ nguồn tiền được tiếp nhận qua Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam, sau đó điều phối về cho địa phương và chủ rừng.
Theo ông Phạm Hồng Lượng, kết quả từ Thỏa thuận ERPA là bằng chứng rõ ràng cho thấy carbon rừng đã vượt qua giai đoạn thử nghiệm. “Lần đầu tiên, kết quả giảm phát thải từ rừng của Việt Nam được quốc tế công nhận và chi trả trên cơ sở đo đạc, thẩm định độc lập”, ông nói. Quan trọng hơn, cơ chế này đã vận hành trọn vẹn chu trình từ xây dựng dự án, MRV, ký kết thỏa thuận đến điều phối, chia sẻ lợi ích một cách công khai, minh bạch.
Tuy nhiên, thí điểm Bắc Trung Bộ cũng cho thấy những giới hạn nếu chỉ dừng ở các thỏa thuận riêng lẻ. Phạm vi áp dụng còn hẹp. Quy trình còn mang tính dự án. Cơ sở pháp lý chưa đủ để nhân rộng trên toàn quốc và kết nối với thị trường carbon trong nước đang hình thành. Đây là lý do ngành lâm nghiệp xác định cần một khung pháp lý thống nhất, thay vì tiếp tục triển khai theo từng thỏa thuận riêng.
Ngoài các biện pháp quản lý rừng bền vững, khâu giống cũng được đẩy mạnh để tăng trữ lượng carbon với rừng trồng. Ảnh: Bảo Thắng.
Từ thực tiễn đó, Dự thảo Nghị định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng được xây dựng, với mục tiêu tạo hành lang pháp lý đầy đủ cho toàn bộ vòng đời của carbon rừng. Nghị định không chỉ quy định việc trao đổi, chuyển nhượng, mà bao trùm từ nguyên tắc, điều kiện cung ứng dịch vụ, xác định kết quả giảm phát thải, cấp tín chỉ, đến quản lý và sử dụng nguồn thu. Điểm xuyên suốt là bảo đảm carbon rừng được quản lý như một dịch vụ hệ sinh thái đặc thù, không tách rời nghĩa vụ NDC. Kết quả giảm phát thải từ rừng phải được phân bổ trước cho mục tiêu quốc gia. Phần còn lại mới được phép đưa vào giao dịch. Nguyên tắc này nhằm tránh tình trạng “bán trùng” hoặc làm suy giảm năng lực thực hiện cam kết khí hậu của Việt Nam.
Về kỹ thuật, dự thảo đặt trọng tâm vào chuẩn hóa quy trình MRV. Việc đo đạc, báo cáo và thẩm định kết quả giảm phát thải phải tuân thủ tiêu chuẩn carbon quốc gia hoặc quốc tế được công nhận. Bộ Nông nghiệp và Môi trường là cơ quan xác định lượng kết quả giảm phát thải hoặc tín chỉ carbon rừng đủ điều kiện cung ứng, sau khi đã trừ phần đóng góp NDC. Cách tiếp cận này phản ánh kinh nghiệm rút ra từ ERPA Bắc Trung Bộ. Nếu không có MRV minh bạch và cơ quan có thẩm quyền xác nhận, tín chỉ carbon sẽ không được thị trường chấp nhận. Ngược lại, khi quy trình rõ ràng, carbon rừng có thể tham gia cả giao dịch trong nước lẫn quốc tế.
Cơ chế định giá và chi trả cũng được định rõ. Cụ thể, giá dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng được xác định trên cơ sở giá trao đổi 1 tấn CO₂. Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành nguyên tắc, phương pháp định giá. UBND cấp tỉnh ban hành bảng giá đối với rừng do địa phương quản lý. Giá này là cơ sở để tổ chức đàm phán hợp đồng hoặc niêm yết trên sàn giao dịch carbon trong nước khi được thành lập.
Phó Cục trưởng nhìn nhận, đưa định giá vào khuôn khổ pháp lý là bước then chốt để tránh tình trạng mua bán tùy tiện, thiếu minh bạch. “Carbon rừng không thể định giá theo cảm tính. Phải có khung, có phương pháp, có cơ quan chịu trách nhiệm”, ông nói.
Nghị định cũng dành một chương riêng cho quản lý và sử dụng nguồn thu từ carbon rừng. Nguồn tiền này được xác định là nguồn thu dịch vụ môi trường rừng bổ sung của chủ rừng, được ưu tiên cho bảo vệ và phát triển rừng, cải thiện sinh kế cộng đồng, tăng cường năng lực quản lý và giám sát. Cơ chế này bảo đảm lợi ích từ carbon rừng quay trở lại tái đầu tư, phục vụ chính hệ sinh thái rừng đã tạo ra nó, thay vì bị tách rời, chệch hướng khỏi mục tiêu bảo tồn.
Khi được ban hành, khung pháp lý quốc gia về carbon rừng không chỉ mở đường cho giao dịch tín chỉ carbon, mà còn chuẩn hóa cách tiếp cận đối với rừng. Khi carbon trở thành một giá trị phải đo đếm, báo cáo và chịu giám sát, yêu cầu về quản lý rừng bền vững cũng được nâng lên một nấc mới. Đây là cơ hội để ngành lâm nghiệp chuyển mạnh tư duy quản lý rừng không chỉ dựa trên diện tích mà sang quản lý dựa trên chất lượng và kết quả.
“Carbon rừng buộc chúng ta phải quản trị rừng bài bản, chuyên nghiệp, minh bạch hơn. Nếu làm tốt, đây sẽ là động lực dài hạn cho phát triển bền vững”, Phó Cục trưởng Phạm Hồng Lượng nhấn mạnh.

















