| Hotline: 0983.970.780

Để đất thở từ những đôi chân trẻ

Thứ Năm 01/01/2026 , 10:49 (GMT+7)

Từ việc chọn con đường nghề nghiệp ít hào quang, một nhà khoa học nữ, trẻ quyết định dấn thân, trực tiếp gắn bó với thực địa để theo đuổi nông nghiệp xanh.

Khi người trẻ chọn con đường khó

Năm 2011, hồ sơ nhân sự của Viện Thổ nhưỡng Nông hóa ghi nhận sự gia nhập của một cán bộ nghiên cứu trẻ, Trần Thị Huế (sinh 1983), vào đúng thời điểm chị vừa lập gia đình. Việc chuyển công tác không gắn với những dấu mốc mang tính hình thức mà là một quyết định mang tính cá nhân và lặng lẽ. Chị rời môi trường giảng dạy quen thuộc để tham gia hoạt động nghiên cứu nông nghiệp - lĩnh vực mà phần lớn thời gian gắn với điều kiện thực địa như đồng ruộng, đồi núi và các vùng sản xuất xa trung tâm, thay vì không gian nghiên cứu khép kín.

TS Huế tham gia nghiên cứu tuyển chọn bộ chủng vi sinh vật hữu ích sử dụng cho chè shan ở Yên Bái năm 2015. Ảnh: NVCC.

TS Huế tham gia nghiên cứu tuyển chọn bộ chủng vi sinh vật hữu ích sử dụng cho chè shan ở Yên Bái năm 2015. Ảnh: NVCC.

Ngày đó, nghiên cứu nông nghiệp chưa phải lựa chọn phổ biến của tri thức trẻ và càng hiếm hơn với phụ nữ đã có trình độ chuyên môn cùng công việc ổn định. Hoạt động nghiên cứu chuyên sâu lại càng ít người theo đuổi, bởi phần lớn đề tài đòi hỏi thời gian thực địa dài ngày, điều kiện làm việc khắc nghiệt, trong khi kết quả nghiên cứu thường không đến nhanh và khó nhận thấy ngay. “Tôi lo mình không theo kịp”, chị nhớ lại. Nỗi băn khoăn ấy không chỉ xuất phát từ yêu cầu về chuyên môn, mà còn từ nhịp độ của đời sống khoa học, nơi tiến độ thực hiện đề tài, yêu cầu ứng dụng và áp lực từ thực tiễn sản xuất luôn song hành, đặt ra ngổn ngang thách thức.

Được đào tạo bài bản về khoa học cây trồng tại Đại học Nông nghiệp I (nay là Học viện Nông nghiệp Việt Nam), cùng với những năm giảng dạy đại học ở Phú Thọ, chị đã hình thành thói quen hệ thống hóa và truyền đạt kiến thức một cách khoa học. Tuy nhiên, chính quá trình tham gia công tác cơ sở cùng đồng nghiệp và hoạt động thực tế với sinh viên đã mang cho chị những nhận thức sâu sắc hơn.

Thực tiễn sản xuất cho thấy khoảng cách giữa lý thuyết và ứng dụng đôi khi khá lớn. Các biểu hiện bất thường của cây trồng thường xuất hiện tương đối sớm khi môi trường đất mất cân đối, trong khi sự suy thoái đất diễn ra chậm, mang tính tích lũy và tiềm ẩn, khiến việc phát hiện và cải tạo đất khó khăn hơn. Nếu chỉ dừng ở truyền đạt kiến thức, khoảng cách giữa lý thuyết và thực tiễn khó có thể thu hẹp. Để hiểu rõ hơn và tăng hiệu quả can thiệp, tham gia nghiên cứu chuyên sâu trở thành mong muốn và khát khao cháy bỏng của chị.

Vào môi trường mới, chị ý thức rõ mình đang chọn một con đường chậm và khó. Là phụ nữ trẻ, mới lập gia đình, những chuyến công tác dài ngày ở vùng sâu, vùng xa không những là thử thách nghề nghiệp, mà còn là thử thách đời sống gia đình, bởi công việc nghiên cứu không cho phép chị chọn những điều thuận lợi nhất. Nó đòi hỏi sự hiện diện tại hiện trường, sự kiên nhẫn và khả năng chấp nhận những kết quả chưa thể đến ngay. Đó không phải dấn thân lãng mạn, mà là lựa chọn tỉnh táo cho một lĩnh vực không có đường tắt.

TS Huế tại mô hình thâm canh giống bí ngồi nhập nội có năng suất, chất lượng cao tại Thái Nguyên năm 2015. Ảnh: NVCC.

TS Huế tại mô hình thâm canh giống bí ngồi nhập nội có năng suất, chất lượng cao tại Thái Nguyên năm 2015. Ảnh: NVCC.

Trái tim xanh giữa thử thách rất thật

Giai đoạn tiếp theo, cường độ công việc của TS Huế ngày càng tăng. Kể từ 2012, các địa bàn như Hòa Bình, Thái Nguyên, Sơn La, Điện Biên và Lai Châu không còn là những điểm khảo sát mang tính thời vụ, mà trở thành khu vực nghiên cứu được theo dõi lặp lại trong nhiều chu kỳ, kéo dài nhiều năm. Nghiên cứu về đất đai, dinh dưỡng cây trồng đòi hỏi quá trình tiếp cận thận trọng và dài hạn, bởi mỗi thay đổi trong biện pháp canh tác cần thời gian để biểu hiện tác động. Mọi sai lệch trong quản lý đất, dinh dưỡng cây trồng đều có thể để lại những hệ quả thiếu bền vững trên hệ thống canh tác.

Tại Sơn La, các đề tài nghiên cứu về cây ăn quả trên đất dốc đặt nhóm nghiên cứu trước thách thức đặc thù của thực địa. Địa hình dốc kết hợp với mưa lớn theo mùa và phương thức canh tác chưa khép tán thúc đẩy quá trình xói mòn mạnh mẽ. Dữ liệu phân tích cho thấy chất lượng đất suy giảm rõ rệt, nhưng đây mới là một phần của vấn đề. Phần còn lại liên quan đến thực tế sản xuất, nơi người nông dân phải đưa ra quyết định hằng ngày trong điều kiện kinh tế hạn chế, không cho phép chờ đất hồi phục. Lựa chọn kỹ thuật canh tác luôn gắn chặt với nhu cầu sinh kế trước mắt.

Theo ghi nhận của TS Huế, “có những mô hình chúng tôi gây dựng trong thời gian dài, nhưng chỉ một mùa thiên tai là mất”, minh họa qua dự án cây dược liệu tại Vân Hồ năm 2018, khi mưa đá và sạt lở liên tiếp xảy ra. Thời điểm đó, chị vừa sinh hơn một tháng, không thể có mặt tại hiện trường. Nhóm nghiên cứu phải chủ động ứng phó để bảo toàn những phần khả thi của mô hình. Những tổn thất này không được phản ánh trong báo cáo tổng kết, nhưng đã để lại dấu ấn quan trọng trong cách tiếp cận các đề tài sau này: thận trọng hơn, thực tế hơn và coi trọng quản trị rủi ro trong nghiên cứu.

Mỗi địa bàn nghiên cứu đặt ra những thách thức đặc thù riêng. Tại Hòa Bình, khó khăn chủ yếu liên quan đến thói quen canh tác đã hình thành trong thời gian dài. Các mô hình rau hữu cơ đòi hỏi quản lý đất, dinh dưỡng và BVTV chặt chẽ, trong khi thị trường tiêu thụ chưa ổn định. Theo quan sát của nhóm, nếu người nông dân không nhận thấy hiệu quả kinh tế, họ có xu hướng quay lại phương thức canh tác truyền thống. 

TS Huế tham gia nghiên cứu sản xuất lúa gạo theo hướng nông nghiệp tuần hoàn thích ứng biến đổi khí hậu tại Thái Nguyên năm 2023. Ảnh: NVCC.

TS Huế tham gia nghiên cứu sản xuất lúa gạo theo hướng nông nghiệp tuần hoàn thích ứng biến đổi khí hậu tại Thái Nguyên năm 2023. Ảnh: NVCC.

Tại Thái Nguyên, cây chè là nguồn sinh kế của hàng nghìn hộ dân, điều này đã đặt ra những thách thức mới đối với nhóm nghiên cứu. Khi khảo sát, nhiều vùng trồng chè có dấu hiệu suy kiệt rõ rệt. Ở một số nơi lớp đất mặt không còn đủ điều kiện canh tác, buộc người dân xúc bỏ và tìm đất mới. Với TS Huế, vấn đề này không chỉ liên quan đến năng suất mà còn phản ánh giới hạn bền vững của hệ thống sản xuất đang chịu áp lực kéo dài. Băn khoăn về sức khỏe đất, dinh dưỡng cây trồng và an toàn thực phẩm càng cấp thiết và không thể bị bỏ qua trong quá trình nghiên cứu.

Khó khăn trở nên cấp bách hơn vào 2020, khi Covid-19 bùng phát. Đi lại bị hạn chế, cộng tâm lý e ngại khiến người dân hạn chế tiếp xúc người ngoài, làm phức tạp quá trình triển khai thí nghiệm thực địa. Để đảm bảo tiến độ, nhóm phải xét nghiệm Covid định kỳ và trong một vài thời điểm đã nghỉ lại ngoài đồng nhằm giảm tiếp xúc gần. Giai đoạn này, TS Huế ít khi nhấn mạnh “đam mê”, thay vào đó tập trung vào trách nhiệm nghề nghiệp. Theo chị, “đã đầu tư nhiều công sức và kinh phí thì không thể bỏ giữa chừng”, và đây cũng là lời nhắc của chị với đồng nghiệp cùng triển khai. Từ thực tiễn đó, một hướng đi ngày càng rõ là kiên trì nghiên cứu và ứng dụng các biện pháp canh tác giảm phụ thuộc vào hóa chất, tăng che phủ đất, cân bằng dinh dưỡng và phục hồi hệ sinh học đất.

Những thất bại tích lũy trong quá trình nghiên cứu đã dẫn đến sự chuyển dịch trong tư duy khoa học. Năm 2018, khi triển khai đề tài liên quan đến sản xuất nông sản an toàn, chị bắt đầu nhận thấy mối quan hệ trực tiếp giữa phương thức canh tác và rủi ro với sức khỏe con người. Khi một người bạn, sống gần khu vực thực hiện đề tài mắc bệnh ung thư, nhận thức này càng rõ ràng hơn. Thực tế cho thấy, khi sản xuất nông nghiệp không đảm bảo an toàn, những rủi ro không chỉ tồn tại trên ruộng đồng mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng và gia đình.

Với TS Huế, nông nghiệp xanh không còn là một khái niệm trừu tượng, mà trở thành tiêu chí xuyên suốt trong hầu hết các đề tài nghiên cứu mà chị thực hiện. Trọng tâm là phục hồi, nâng cao sức khỏe đất và dinh dưỡng cây trồng phù hợp, giảm sử dụng hóa chất trước khi quan tâm đến năng suất, đồng thời đặt sức khỏe đất và dinh dưỡng cây trồng ngang với hiệu quả kinh tế. Dù kết quả tích cực không xuất hiện ngay tức thì, chúng đủ thuyết phục người dân tin tưởng và tiếp tục áp dụng các biện pháp canh tác mới nhiều năm sau khi dự án kết thúc.

Con đường không thể đi một mình

Sau nhiều năm gắn bó với thực địa, TS Huế nhận thấy một giới hạn rõ ràng: không nhà khoa học nào có thể theo đuổi nông nghiệp xanh một mình. Nghiên cứu hướng tới bền vững đòi hỏi thời gian dài, nguồn lực ổn định và sự kiên nhẫn mang tính tập thể. Những kết quả mà chị đạt được không chỉ dựa trên năng lực cá nhân, mà còn nhờ vào một môi trường nghiên cứu cho phép thử nghiệm, điều chỉnh và đi chậm mà không bị bỏ lại khi khó khăn.

Theo chị, “chỉ cần biết luôn có người sẵn sàng tiếp nối, mình yên tâm hơn rất nhiều”, phản ánh tinh thần hợp tác và trách nhiệm tập thể. Chính cách làm này tạo ra sự gắn kết, giúp các nhà khoa học trẻ trong nhóm nhận thấy con đường nghề nghiệp cụ thể, thay vì theo đuổi một hình mẫu lý tưởng hóa.

TS Huế: 'Chỉ cần biết luôn có người sẵn sàng tiếp nối, mình yên tâm hơn rất nhiều'. Ảnh: NVCC.

TS Huế: 'Chỉ cần biết luôn có người sẵn sàng tiếp nối, mình yên tâm hơn rất nhiều'. Ảnh: NVCC.

Trong các cuộc trao đổi chuyên môn, câu hỏi thường trực không phải là “làm sao để nhanh có kết quả”, mà là “làm sao để kết quả đứng vững sau khi đề tài kết thúc”. Cách đặt vấn đề này phản ánh triết lý nghiên cứu mà chị và đồng nghiệp tại Viện Thổ nhưỡng Nông hóa theo đuổi. Nông nghiệp xanh không phải thử nghiệm ngắn hạn, mà là hướng đi dài hơi, đòi hỏi sự nhất quán từ nghiên cứu đến ứng dụng, từ phòng thí nghiệm ra đồng ruộng.

Với các nhà khoa học trẻ, con đường nghiên cứu nông nghiệp không hấp dẫn và hào nhoáng như một số ngành nghề khác. Nhiều người rời bỏ giữa chừng vì áp lực, vì cảm giác chông chênh khi kết quả đến chậm. TS Huế nhìn thấy điều đó trong chính các thành viên của nhóm. “Trở thành tiến sĩ không quá khó, nhưng trở thành người làm nghiên cứu thực sự thì khác”, chị tâm sự. Cái khác ở chỗ, phải đọc rất sâu, làm rất kỹ và chấp nhận thành quả chỉ đến sau khi làm thực hiện lại nhiều lần.

Điều giúp chị bám trụ với nghề, ngoài động lực cá nhân, còn là cảm giác vui sướng khi thấy những thay đổi nhỏ nhưng bền vững. Một vùng đất không còn bị bỏ hoang, một nhóm nông dân duy trì phương thức canh tác mới sau nhiều năm. Hay nhìn thấy một nghiên cứu trẻ vẫn say mê dữ liệu hơn ngày hôm trước.

Thước đo của giá trị khoa học phải chăng đến từ những khoảnh khắc ấy hiếm hoi ấy? Là cảm giác được cơ quan đồng thuận cho những hướng nghiên cứu khó được tiếp tục đến tận cùng? Ở đó, tiến độ không luôn suôn sẻ, kết quả không phải lúc nào cũng rõ ràng...Tất cả đều được nhìn nhận như một phần tất yếu của quá trình làm nghề.

Ngoài kia, nhiều Trần Thị Huế trẻ hơn, sung sức hơn vẫn đang chờ những “Viện Thổ nhưỡng Nông hóa” tới, trao cơ hội. Đó không hẳn là con đường chỉ dành cho những người sẵn sàng đương đầu với khó khăn, mà là lựa chọn theo đuổi nếu có một môi trường đủ tin cậy để bám trụ. Không có lời hứa hẹn nào về bứt phá. Chỉ có sự kiên nhẫn được sẻ chia, rủi ro được phân bổ và trách nhiệm được gánh vác bởi nhiều đôi vai.

Con đường xanh không thể đi một mình và điều giúp TS Huế kiên gan, bền chí là cảm giác bản thân không phải tự xoay xở. Trong khoa học, đôi khi chỉ cần như vậy là đủ để người trẻ dám bước trên những hành trình dài.

Xem thêm
Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Tổng kết ngành Nông nghiệp và Môi trường

Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội nghị tổng kết công tác năm 2025, triển khai nhiệm vụ năm 2026; Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự và chỉ đạo hội nghị.

Bế mạc chuỗi sự kiện ‘OCOP đặc sản vùng miền và ẩm thực’

Chuỗi sự kiện 'OCOP đặc sản vùng miền và ẩm thực' và 'Sắc hương OCOP và Tết cổ truyền dân tộc' đã khép lại sau 6 ngày sôi động với hàng ngàn lượt khách.

Để đất thở từ những đôi chân trẻ
Thời sự 2 phút trước