Tôm, cá tra, cá ngừ lập kỳ tích
Với con tôm, Việt Nam là một trong 5 quốc gia sản xuất lớn nhất thế giới (cùng với Ecuador, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia), cung ứng 74% sản lượng tôm cho toàn cầu.
Ngành tôm có vai trò quan trọng trong xuất khẩu thủy sản suốt hai thập kỷ qua. Hằng năm, con tôm đóng góp khoảng 40-45% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản, tương đương 3,5-4 tỷ USD.
Theo Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), năm 2024, sản lượng tôm cả nước đạt 1,264 triệu tấn, tăng 5,3% so năm trước. Trong đó, sản lượng tôm sú đạt 284.000 tấn và tôm thẻ chân trắng đạt 980.000 tấn. Mục tiêu năm 2025, sản lượng nuôi tôm nước lợ đạt 1,29 triệu tấn.

Hằng năm, con tôm đóng góp khoảng 40-45% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản, tương đương 3,5-4 tỷ USD. Ảnh: Hồng Thắm.
Về xuất khẩu, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) cho biết, năm 2024, tôm Việt Nam mang về gần 4 tỷ USD, tăng 15% so với năm 2023. Trước đó, năm 2022, xuất khẩu tôm đã tăng 14% so với năm 2021, thiết lập kỷ lục mới với kim ngạch - đạt 4,3 tỷ USD.
Cùng với tôm, cá tra cũng ghi nhận tăng trưởng tích cực, góp phần đa dạng hóa cơ cấu xuất khẩu và nâng cao vị thế thủy sản Việt Nam trên thị trường quốc tế. Cá tra là loài thủy sản đặc hữu có giá trị kinh tế của khu vực ĐBSCL, đồng thời cũng là đối tượng chủ lực và được đưa vào chương trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Với lợi thế tuyệt đối về điều kiện tự nhiên của vùng sông nước ĐBSCL, ngành cá tra không ngừng phát triển và hiện đã trở thành ngành công nghiệp cá tra nổi tiếng toàn cầu.
Theo VASEP, kim ngạch xuất khẩu cá tra Việt Nam đã đạt 1,5-2,35 tỷ USD mỗi năm, riêng con cá tra đã chiếm 16-26% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. Năm 2022, xuất khẩu cá tra mang về 2,35 tỷ USD, cao nhất từ trước đến nay, vượt cả đỉnh trước đó là năm 2018 (2,26 tỷ USD). Kết quả xuất khẩu cá tra năm 2022 là một kỳ tích, vượt mong đợi bởi nó đến trong cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu, dịch bệnh…
Không chỉ tôm, cá tra, cá ngừ cũng trở thành điểm sáng của ngành thủy sản. Năm 2024, xuất khẩu cá ngừ Việt Nam đạt gần 1 tỷ USD, duy trì đà tăng trưởng ổn định tại các thị trường lớn như: Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản, khẳng định vai trò một trong những sản phẩm chiến lược của thủy sản Việt Nam.
Khai mở tiềm năng từ đa dạng hóa đối tượng nuôi
Mặc dù tôm, cá tra mang lại giá trị kinh tế cao, việc tập trung quá mức vào hai đối tượng này khiến ngành thủy sản dễ tổn thương trước biến động thị trường và rủi ro dịch bệnh.
Ông Trần Đình Luân, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư cho biết, để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng 4,35% trong năm 2025, ngành thủy sản cần đa dạng hóa các đối tượng nuôi mới có tiềm năng cạnh tranh, như cá rô phi, lươn, nhuyễn thể (nghêu, sò, hàu), rong biển, bào ngư hay hải sâm. Những loài này không chỉ có giá trị kinh tế cao mà còn phù hợp với điều kiện tự nhiên tại nhiều vùng miền, giúp khai thác hiệu quả diện tích mặt nước và giảm áp lực lên môi trường.
Ví dụ, cá rô phi đang nổi lên như một đối tượng nuôi tiềm năng tại miền Bắc, với nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng ở thị trường nội địa và xuất khẩu. Tương tự, các mô hình nuôi kết hợp cá, nhuyễn thể và rong biển đang chứng minh hiệu quả kinh tế và môi trường, góp phần giảm phát thải và bảo tồn đa dạng sinh thái biển.

Cá rô phi là đối tượng nuôi tiềm năng, với nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng ở thị trường nội địa và xuất khẩu. Ảnh: Hồng Thắm.
Ông Phạm Anh Tuấn, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản, cho biết, việc đa dạng hóa đối tượng nuôi là rất cần thiết. Nhu cầu thị trường ngày càng thay đổi, cả trong nước lẫn quốc tế, đòi hỏi sự đa dạng về sản phẩm thủy sản để đáp ứng tốt hơn. Thực tế hiện nay, chúng ta đã có sự đa dạng, nhưng vẫn cần thúc đẩy mạnh hơn ở một số đối tượng có tiềm năng lớn, chẳng hạn như cá rô phi, vừa có nhu cầu tiêu thụ trong nước, vừa mở ra cơ hội xuất khẩu.
“Hay đối với các loài cá biển, chúng ta đã nuôi nhưng cần tiếp tục thúc đẩy mạnh hơn, nhất là với những đối tượng có thị trường rõ ràng và tiềm năng phát triển, để góp phần đa dạng hóa sản phẩm nuôi trồng thủy sản. Bên cạnh đó, nhóm cá bản địa cũng rất quan trọng. Việc phát triển nuôi các loài cá bản địa không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước ngày càng tăng, mà còn bù đắp sự suy giảm của nguồn lợi tự nhiên do khai thác quá mức”, TS. Phạm Anh Tuấn nói thêm.
Rõ ràng, đa dạng hóa đối tượng nuôi không chỉ mở rộng dư địa tăng trưởng cho ngành thủy sản, mà còn là chìa khóa để giảm rủi ro, nâng cao sức cạnh tranh và hướng tới phát triển bền vững.
Vững nội địa, rộng quốc tế
Trong bối cảnh ngành thủy sản Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn từ các thị trường xuất khẩu chủ lực như: Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc… do các yếu tố như rào cản kỹ thuật, thuế quan và nhu cầu tiêu dùng biến động, việc khai thác hiệu quả thị trường trong nước với dân số hơn 100 triệu người được xem là chiến lược thiết yếu để bảo đảm đầu ra bền vững cho sản phẩm thủy sản.
Ông Tuấn cho hay, ngay tại thị trường trong nước, nhiều khi chúng ta chưa chú trọng đúng mức để phát triển, dẫn đến tình trạng một số nhóm cá, nhóm thủy sản dù rất phổ biến ở ĐBSCL nhưng lại chưa được tiêu thụ rộng rãi ở khu vực phía Bắc.
Nguyên nhân chủ yếu là do công tác thị trường, quảng bá, hướng dẫn tiêu dùng chưa được thực hiện tốt, khiến sức lan tỏa bị hạn chế. Chẳng hạn, các sản phẩm như cá da trơn hay tôm càng xanh vẫn còn ít xuất hiện ở thị trường miền Bắc, dù đây hoàn toàn là những mặt hàng có tiềm năng lớn ngay trong nội địa.

Để ngành thủy sản Việt Nam phát triển toàn diện và giữ vững vị thế cường quốc xuất khẩu, việc củng cố thị trường nội địa cần song hành với chiến lược mở rộng, chinh phục các thị trường quốc tế. Ảnh: Hồng Thắm.
Đã đến lúc Việt Nam phải coi thị trường nội địa là “thị trường thật sự” - không chỉ là giải pháp ngắn hạn khi xuất khẩu gặp khó, mà là “thành trì dài hạn” tạo sức đề kháng cho toàn chuỗi giá trị thủy sản.
Tuy nhiên, để ngành thủy sản phát triển toàn diện và giữ vững vị thế cường quốc xuất khẩu, việc củng cố thị trường nội địa cần song hành với chiến lược mở rộng, chinh phục các thị trường quốc tế.
Bên cạnh những thị trường truyền thống như: Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản hay Trung Quốc, ngành thủy sản đang từng bước khai phá các thị trường tiềm năng tại Trung Đông, Nam Mỹ, Nam Á và châu Phi. Đây là hướng đi tất yếu nhằm phân tán rủi ro, tránh phụ thuộc vào một vài thị trường chủ lực, đồng thời mở ra dư địa tăng trưởng mới cho xuất khẩu.
Thực tế cho thấy, nhiều mặt hàng thủy sản Việt Nam như cá tra, tôm, cá ngừ, nhuyễn thể... của nước ta đã bắt đầu khẳng định vị thế tại các thị trường mới nhờ lợi thế về chất lượng, giá thành và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Việc chủ động tham gia sâu vào các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới cũng giúp doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận thuận lợi hơn với người tiêu dùng toàn cầu.
Rõ ràng, đa dạng hóa đối tượng nuôi và thị trường là chiến lược căn cơ, giúp thủy sản Việt Nam bứt tốc vững vàng trước biến động thương mại toàn cầu. Khi thị trường nội địa được coi là “thành trì dài hạn”, còn thị trường quốc tế được mở rộng không gian, ngành thủy sản Việt Nam có đủ nền tảng để khẳng định vị thế và thương hiệu uy tín trên bản đồ thủy sản thế giới.