| Hotline: 0983.970.780

Đói no làng Búng

Chủ Nhật 04/01/2026 , 16:10 (GMT+7)

Bàn tay run run sau cơn tai biến chỉ vào tấm ảnh đoàn người chụp chung với Bác Hồ ngày 1/1/1967 khi về thăm Thái Bình, bà bảo hiện chỉ mình là còn sống.

Vị khách đặc biệt lúc mờ sáng

“Hôm trước, ông Vũ Văn Diễn - Bí thư xã Việt Hùng (huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình cũ) đến báo: “Tất cả chúng ta chuẩn bị sáng mai đón khách tới thăm Hợp tác xã (HTX)”. Ông không nói rõ khách là ai nhưng chúng tôi đoán đó là người rất quan trọng bởi dân quân được cử đến gác hội trường HTX. Đội Khoa học Kỹ thuật chuẩn bị mấy lọ giống lúa như di hương, dâu rừng, nếp quýt. Nhưng bởi ngày 1/1/1967 có phiên chợ huyện họp ở đầu làng Búng sẽ có rất đông người nên để đảm bảo an toàn cho khách, ông Diễn lại đến bảo bí mật di chuyển đến một địa điểm cách đây 2 cây số.

Trời hãy còn tối nhưng chúng tôi đi theo ông không được thắp đèn, băng qua cánh đồng đang để ải trắng sang đình Phương Cáp của xã Hiệp Hòa thì vào ngồi đợi. Một lúc sau Bác Hồ đến. Lúc đầu đoàn nữ chiến sĩ thi đua của HTX chúng tôi gồm 9 người đứng ở dưới cùng. Thấy thế, Bác mới nói: “Mời các cô lên trên này, ngồi với Bác”.

Bác Hồ về thăm Thái Bình (ngày 1/1 năm 1967). Ảnh: Tư liệu.

Bác Hồ về thăm Thái Bình (ngày 1/1 năm 1967). Ảnh: Tư liệu.

Ngoài khen HTX lao động tốt, đạt năm tấn thóc/ha, Bác còn bảo địa phương phải khắc phục chuyện họp hành nhiều lãng phí thời gian, cần chi tiêu tiết kiệm hơn. “Đất Tân Phong còn màu mỡ, kênh mương còn nhiều nước, trong chuồng còn nhiều phân, người cần cù thì năng suất lúa không chỉ dừng lại ở năm tấn/ha mà phải phát triển hơn nữa”. Nghe lời Bác, về sau chúng tôi đã đạt bảy tấn/ha”.

Mắt bà Phạm Thị Mùi lấp lánh khi nhớ về thời thanh niên sôi nổi. Hồi ấy bà làm Đội trưởng Đội Khoa học Kỹ thuật của HTX Tân Phong, nơi đạt 5 tấn thóc/ha được Bác viết thư khen hai lần. Đội của bà có 22 người thì 19 nữ, chủ yếu là chưa chồng, còn bà dù đã có gia đình nhưng chồng đi công nhân thủy lợi cả năm mới về phép, khi được một kỳ 12 ngày, khi được nửa kỳ 6 ngày.

Đội có nhiệm vụ sản xuất lúa giống và bèo hoa dâu. Họ đạp xe sang Viện Cây lương thực ở tỉnh Hưng Yên để học ông Lương Định Của cách cấy ngửa tay, chăng dây thẳng hàng. Lúc đầu HTX còn phải đến làng La Vân của huyện Quỳnh Phụ để mua bèo hoa dâu nhưng sau đó bà Mùi cùng với một người nữa đi bộ sang huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định để chọn lọc từng cánh bèo dưới ao về làm giống. Chuyến đi mất đúng 2 ngày.

Họ đổ bèo giống ra chậu, dùng đóm nứa hớt từng cây lên xem có đủ tiêu chuẩn thì bỏ ra một góc ruộng được quây lại to bằng cái nia, bón thêm tro, bùn khô trộn phân bò. Sau 3 ngày bèo lan gấp đôi, cái quây lại mở rộng ra to như cái nong. Cứ thế mà nhân ra cả đồng. Xã viên vớt bèo gom lại thành đống như cái rá ngay tại ruộng, trát bùn lên ủ 3 ngày cho ngấu rồi khỏa ra. Lúa gặp phân, bèo tốt, cứ bời bời, chắc hạt, mẩy bông. Thêm vào đó, bèo hoa dâu che kín mặt ruộng cũng rất ít cỏ.

Lao động thủ công nặng nhọc, gánh phân, tát nước bằng tay hay guồng đạp chân nhưng mà lúc lên bờ giải lao, họ lại cùng nhau hát vang Bài ca năm tấn hay Cô gái Thái Bình.

Niềm vui tuổi già của vợ chồng bà Phạm Thị Mùi. Ảnh: Dương Đình Tường.

Niềm vui tuổi già của vợ chồng bà Phạm Thị Mùi. Ảnh: Dương Đình Tường.

Trở lại tâm đói, tâm lụt

Tối hôm đó tôi nghỉ ở nhà người xã viên già đã ngót 80 tuổi, ông Nguyễn Văn Thín. Tiếng ông kể lẫn với tiếng mưa rơi lộp bộp trên mái hiên. Trên tường nhà có treo trang trọng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Trang, bà nội của ông Thín. Bà sinh được 11 con, chết đói năm 1945 mất 4 người, không nhớ hết ngày mà cúng giỗ.

Việt Nam hồi ấy khoảng 2 triệu người chết đói thì đớn đau thay, tâm đói lại là ở quê lúa Thái Bình. Sách địa chí Thái Bình có ghi: “Dân Thái Bình rơi vào nạn đói kéo dài từ tháng 8, tháng 9 năm Giáp Thân (1944) sang đến những tháng đầu năm Ất Dậu (1945). Trong khi đáng lẽ phải cứu đói khẩn cấp thì chính quyền phát xít Nhật - Pháp lại ráo riết thực hiện chính sách thu mua thóc tạ thời chiến…

Nhiều làng chết đói từ 50-80% dân số. Làng Sơn Thọ (sau thuộc xã Thái Thượng, huyện Thái Thụy cũ) có 1.025 người thì chết đói mất 965 người, làng Thanh Nê (Kiến Xương) có 4.164 người, chết đói 1.854 người… Chỉ trong vòng 5 tháng, số người chết đói trong toàn tỉnh lên tới 28 vạn người (khoảng 25% dân số)… Trước 1945 ở Thái Bình chỉ có 12% chủ sở hữu ruộng đất là đủ và thừa ăn còn 88% hộ nông dân thiếu ăn".

Đã đói lại còn gặp nạn đại hồng thủy. Nước sông Hồng mùa lũ năm ấy lên rất to, chảy cuồn cuộn. Đoạn đê qua làng Búng vốn yếu lại nằm đúng khúc sông cong nên không chịu nổi sức ép đã vỡ toang vào đêm 21/8/1945. Lũ cuốn trôi vô số người cùng với nhà cửa, mùa màng. Những người sống sót sau nạn đói, nạn lũ đã nhất tề đứng lên theo lời hiệu triệu của Bác Hồ, kéo lá cờ đỏ sao vàng cùng đoàn thuyền chèo qua khu vực đê vỡ thẳng hướng huyện lỵ mà giành lại chính quyền.

Bà nội của ông Thín vốn gốc bần cố nông, không ruộng đất, sau cách mạng được chia mấy sào ruộng rồi góp cả vào HTX cấp nhỏ và sau này là HTX cấp to. Khổ nỗi cơ chế rong công, phóng điểm hồi đó nó trói buộc người ta nên xã viên vẫn đói. Sau khi phục viên về làng năm 1977 ông Thín phải đi làm ăn tận Quảng Ninh, mãi đến năm 1981 mới quay trở lại làm đội trưởng đội sản xuất. Khi có khoán 100, khoán 10, nông dân dần bớt đói.

Người hót phân trâu cuối cùng đã về trời

HTX cũ có nhà ủ phân xanh (lá cây), phân chuồng (phân gia súc, gia cầm), phân bắc (phân người) và bể chứa nước giải, nhưng thường xuyên thiếu. Sau nhờ khoán 100, khoán 10 mà đống phân ủ ở góc vườn mỗi nhà dân luôn đầy có ngọn. Làng hình thành một nghề mới là hót phân trâu với đôi quang, giành và hai cái que tre. Người đi trên đường thấy bãi phân trâu mà không có gì để hót thì bẻ cành cây cắm lên để đánh dấu sở hữu.

Một sào lúa phải có 3-4 tạ phân trâu thì mới đủ, nhà nào thiếu thì buộc phải mua. Năm 2014 tôi về gặp người hót phân cuối cùng trên quê hương năm tấn là ông Đỗ Văn Nguyên ở thôn Mỹ Bổng xã Việt Hùng. Ông lão 73 tuổi rổn rảng kể, cả nhà mình sống được nhờ có nghề hót phân trâu, rồi hót phân người về bán cho nông dân ủ thành phân bón ruộng.

Ông Đỗ Văn Nguyên - người hót phân trâu cuối cùng ở Thái Bình (thời điểm chụp năm 2014). Ảnh: Dương Đình Tường.

Ông Đỗ Văn Nguyên - người hót phân trâu cuối cùng ở Thái Bình (thời điểm chụp năm 2014). Ảnh: Dương Đình Tường.

“Buổi sáng con trâu còn đói, thót bụng ra cũng chỉ được bãi phân bằng cái rế rọ (rế lót nồi nhỏ), buổi chiều, tối, khi nó đã ăn no thì bãi phân trâu bằng cái rế to. Bãi phân càng to thì người hót càng vui. Có một số người thấy chúng tôi sống bằng nghề hót phân nên mới xỏ xiên rằng: “Một gánh phân cả nhà ăn đủ nhẩy?”. Vợ tôi mới đáp rằng: “Vâng chỉ một gánh là nhà em no”.

Vợ chồng ông rời làng khi mới nhọ mặt người, chỉ về khi trời đã tối với gánh phân đầy trên vai, kể cả khi bà chửa gần đẻ đứa thứ năm cũng vậy. Không những hót phân trâu mà họ còn đi bộ hơn 10 km từ làng lên thành phố Nam Định để xúc phân người từ những nhà xí tập thể. Có những lúc bất thình lình đội vệ sinh đô thị xuất hiện thu hết cả phân lẫn quang gánh, họ cứ đứng tần ngần vì tiếc.

Khi tôi trở lại Việt Hùng lần này thì nghe tin ông Nguyên đã mất, đem theo cả những ký ức vui buồn nghề hót phân về miền mây trắng.

11 năm với bao thay đổi đến ngỡ ngàng. Làng Búng nay đã trở thành phố Búng. Nhà tầng, nhà gác san sát hai bên đường. Ông Nguyễn Xuân Thược - vị trưởng thôn có lẽ cao tuổi nhất của tỉnh Hưng Yên mới (79 tuổi) chính là cháu ruột của ông Nguyễn Quế - Chủ nhiệm HTX Tân Phong cũ, kể:

“Bác tôi được phong anh hùng bởi hăng hái áp dụng khoa học kỹ thuật, ông nói gì dân cũng nghe theo. Ông bảo dân làng trồng điền thanh làm phân xanh, tát ao gánh bùn ra ruộng bón cho lúa. Ông đan sọt rồi đổ đất vào để thí nghiệm trồng khoai. Ông đào hố xây bể nuôi lươn sát nhà bố tôi. Bố tôi đang ăn cơm mà nghe cán bộ gọi với qua cửa sổ bảo đi họp là bỏ bát đấy đi luôn, không được đi là ấm ức trong lòng”.

18 năm sống... ngoài đồng

Ngày nay, làng có hơn 700 hộ thì hơn 80% là nhà gác, nhà tầng, kinh tế từ khá đến giàu, chỉ có 25 hộ nghèo, 20 hộ cận nghèo, chủ yếu là những người độc thân hay mất vợ mất chồng mà phải nuôi con nhỏ. Giờ năng suất lúa 11-12 tấn/ha nhưng thanh niên đi công nhân, đi buôn bán hết, ruộng đồng để lại cho người khác cấy cày.

Anh Hoàng Bá Toản khơi nước thoát úng cho rau. Ảnh: Dương Đình Tường.

Anh Hoàng Bá Toản khơi nước thoát úng cho rau. Ảnh: Dương Đình Tường.

Trong cơn mưa triền miên cả tuần chưa dứt, tôi tìm đến túp lều do vợ chồng anh Hoàng Bá Toản dựng trên bờ ruộng để trông 10 mẫu đất và đám máy cày to, máy cày nhỏ, máy bơm, máy cắt cỏ, máy vén luống rau tự chế, máy vén luống rạ tự chế… tổng trị giá hàng trăm triệu đồng.

18 năm trước chàng thợ cơ khí này lấy vợ với hai bàn tay trắng, thấy đám đất ven làng bỏ không liền cuốc đất trồng thử 2,5 sào su hào. Vụ đó, anh bán su hào đi đủ mua được cái máy cày nhỏ trị giá 23 triệu đồng. Thấy “ngon ăn” quá, anh mới bỏ nghề cơ khí để chuyển sang làm nông, đấu thầu đất với mức 60kg thóc/sào/năm, mở rộng thêm diện tích vừa cấy lúa vừa trồng màu: xuân trồng dưa lê, dưa lưới, dưa hấu, dưa chuột; đông trồng cà chua, su hào, bắp cải và hoa. 4 năm sau anh xây được nhà, mua được thêm một mảnh đất cho thằng con duy nhất của mình.

“Mẹ vợ, anh vợ và vợ chồng tôi canh tác 10 mẫu đất, lãi mỗi năm 200-300 triệu đồng, cũng chỉ bằng lương công nhân nhưng đầu óc được nhẹ nhàng. Chúng tôi lấy ngắn nuôi dài, cây rau hơn 1 tháng nuôi cây hoa 4 tháng. Nhưng không phải thời tiết lúc nào cũng thuận.

Có năm trồng ly, trời đang rét đậm bỗng nắng, hoa bung trước Tết, bán chỉ 15.000 đồng/cây thay vì 60-70.000 đồng/cây, không đủ tiền mua phân và giống nên mới đây tôi đã đầu tư một kho lạnh rộng 40m2 trị giá 100 triệu đồng để bảo quản. Có năm lúc dưa đang chuẩn bị tạo lưới mà trời bỗng mưa khiến không thể tạo được, ra chợ bán chỉ non nửa giá.

Phố Búng nay. Ảnh: Dương Đình Tường.

Phố Búng nay. Ảnh: Dương Đình Tường.

Xưa tôi cũng làm theo tiêu chuẩn VietGAP nhưng không đủ hàng để cấp cho siêu thị. Vận động người khác trồng theo, mình đầu tư giống, phân cho thì họ không chịu bởi cánh trẻ thì đi làm công nhân hết, cánh già thì không làm nổi, thế rồi lại thôi. Không như bên Hải Dương trồng chuyên canh màu, thương lái đến tận ruộng để thu mua, ở đây mỗi nhà tôi làm nên phải tự đem đi bán, khi thì chợ Nam Định, Thái Bình, lúc lại chợ Búng”.

Lều cách nhà trong làng chỉ 300m nhưng vợ chồng anh Toản chỉ về ăn cơm và tắm rửa còn cả ngày lẫn đêm đều ở ngoài đồng, đến đứa con duy nhất cũng gửi bà chăm sóc. Đêm 30 họ đón giao thừa ngoài đồng, sáng mồng một bẻ tí lộc về nhà thắp hương, đi thăm họ hàng rồi mồng hai, mồng ba đã chặt rau, mồng bốn, mồng năm đã hái hoa đi bán.

“Tôi làm nông 18 năm nhưng được cái trời cho sức khỏe, không phải đi viện một ngày, vợ chồng không to tiếng một lần, chỉ biết vui chứ không biết buồn. Đời sống là mấy, thích gì ăn nấy, thích gì làm nấy. Chúng tôi nuôi 10 con lợn và mấy chục con gà, cứ thích là ngả ra, bỏ vào tủ đông ăn dần chứ không có bán”. Lúc tạm biệt, anh bắt tay tôi rất chặt. Cái bắt tay và triết lý sống của một lực điền làng Búng khiến tôi nhớ mãi suốt cả chặng đường về.

Xem thêm
Hơn 2.000 người vi phạm nồng độ cồn trong 2 ngày đầu năm

Trong 2 ngày đầu năm 2026, cảnh sát giao thông TP.HCM đã lập biên bản xử phạt 6.399 trường hợp vi phạm, trong đó có 2.075 người vi phạm nồng độ cồn.

Đói no làng Búng
Phóng sự 7 phút trước