Bộ Dân tộc và Tôn giáo ban hành Quyết định 60/QĐ-BDTTG ngày 29/1, công bố danh sách thôn, xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; thôn đặc biệt khó khăn; xã khu vực I, II, III áp dụng cho giai đoạn 2026-2030.
Theo đó, cả nước có 1.494 xã và 30.591 thôn nằm trong danh sách vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Trong đó, 12.368 thôn được xác định là thôn đặc biệt khó khăn.
Cả nước có gần 1.500 xã và hơn 30.500 thôn đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi. Ảnh: TL.
Trong tổng số 1.494 xã trong danh sách, 1.333 xã (89,2%) được xác định là xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Bên cạnh đó, có 161 xã không thuộc vùng, nhưng có thôn được xác định thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Tương ứng với 2 loại xã trên, danh sách ghi nhận 30.097 thôn (98,4%) nằm trong 1.333 xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. 494 thôn còn lại thuộc nhóm 161 xã.
Với thôn đặc biệt khó khăn, có 12.299 thôn nằm trong các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi và 69 thôn nằm trong các nhóm còn lại. Tỷ lệ thôn đặc biệt khó khăn trên tổng thôn trong danh sách là 40,4%.
Trong nhóm 1.333 xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, Quyết định 60 tiếp tục chia theo khu vực I, II, III. Xã khu vực I có 250 xã, khu vực II có 259 xã và khu vực III có 824 xã. Như vậy, khu vực III chiếm 61,8% số xã trong nhóm xã vùng, trở thành nhóm lớn nhất theo cấp xã.
Nếu nhìn theo số thôn, cấu trúc khu vực cũng hiện rõ. Xã khu vực I có 6.879 thôn, khu vực II có 5.872 thôn, khu vực III có 17.346 thôn. Xã khu vực III chiếm 57,6% tổng số thôn trong nhóm xã vùng, trong khi xã khu vực I chiếm 22,9% và khu vực II chiếm 19,5%.
Điểm nổi bật nằm ở phân bố thôn đặc biệt khó khăn theo khu vực. Trong 12.299 thôn đặc biệt khó khăn, xã khu vực III có 11.516 thôn. Con số này tương đương 93,6% của tổng số. Xã khu vực II có 679 thôn đặc biệt khó khăn, còn khu vực I có 104 thôn.
Tổng hợp các số liệu trên, độ chênh giữa các khu vực là khá rõ. Xã khu vực I có 104/6.879 thôn đặc biệt khó khăn, tương đương 1,5%. Xã khu vực II có 679/5.872 thôn đặc biệt khó khăn, tương đương 11,6%. Xã khu vực III có 11.516/17.346 thôn đặc biệt khó khăn, tương đương 66,4%. Nói cách khác, cứ 3 thôn ở khu vực III thì có khoảng 2 thôn được xác định là đặc biệt khó khăn, trong khi tỷ lệ này ở khu vực I thấp hơn đáng kể.
Cấu trúc số liệu cũng cho thấy danh mục “thôn đặc biệt khó khăn” gần như gắn với khu vực III. Số thôn đặc biệt khó khăn của khu vực III vượt xa tổng của khu vực I và II cộng lại.
Ở nhóm 161 xã không thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nhưng có thôn thuộc vùng, tổng cộng 494 thôn thuộc danh sách, trong đó 69 thôn đặc biệt khó khăn. Tỷ lệ thôn đặc biệt khó khăn trong nhóm này là 14%. Đây là nhóm nhỏ về quy mô nhưng đáng chú ý về mặt cấu trúc.
Xét quy mô cấp tỉnh, thành phố, Tuyên Quang có 124 xã trong danh sách, 3.625 thôn, trong đó 1.905 thôn đặc biệt khó khăn. Tỷ lệ thôn đặc biệt khó khăn của tỉnh này khoảng 52,6%.
Một số tỉnh miền núi phía Bắc có tỷ lệ thôn đặc biệt khó khăn cao khi so với tổng số thôn. Cao Bằng ghi nhận 1.102 thôn đặc biệt khó khăn, tương đương khoảng 75,4%. Điện Biên là 923 thôn, khoảng 63,8%. Sơn La có 1.198 thôn, tương đương 53,6%. Lào Cai có 1.033 thôn, tỷ lệ khoảng 42,4%.



















