| Hotline: 0983.970.780

Xây dựng nông thôn mới tiếp nối di sản 'khoán 10'

Chủ Nhật 31/08/2025 , 08:50 (GMT+7)

Từ ruộng ‘khoán hộ’ của ông Kim Ngọc, quê hương nay đi tiếp hành trình nông thôn mới, ruộng đồng, xóm làng và đời sống thêm một chặng đổi thay.

Về Đại Nội hôm nay

Tháng 8 đang vào độ thu vàng, trên khắp nẻo đường làng quê, sắc cờ đỏ thắm hòa trong không khí vừa thiêng liêng, hào hùng hướng đến kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9. Trong niềm tự hào chung ấy, chúng tôi tìm về thôn Đại Nội (xã Bình Định, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc cũ - nay thuộc xã Yên Lạc, tỉnh Phú Thọ), quê hương của cố Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc, người từng gieo hạt giống “khoán hộ”, để hôm nay kết tinh thành một diện mạo nông thôn mới rạng rỡ.

Cổng làng Đại Nội. Ảnh: Tú Thành.

Cổng làng Đại Nội. Ảnh: Tú Thành.

Từ cổng làng Đại Nội chạy dọc theo ĐT.305 chừng vài trăm mét, chúng tôi ghé vào ngôi đền Cầu Phúc (tên gọi cũ là đền Hai Cụ). Trong sân đền rợp bóng cây cổ thụ, hai người phụ nữ lớn tuổi đang lui cui quét lá khô và sắp lại những bát nhang trên ban thờ. Thấy khách lạ, các cụ tươi cười mời chúng tôi lại bàn nước dưới gốc bàng. Trên chiếc bàn mộc mạc đã đặt sẵn ấm nước vối ủ trong tích sành ấm nóng. Người phụ nữ dáng người mảnh khảnh, mặc áo nâu sồng bạc màu, nhẹ rót chén nước vàng sóng sánh mời khách, giọng thân tình: “Các chú uống nước đi cho mát, rồi muốn hỏi han gì cứ tự nhiên nhé”.

Nhấp ngụm nước vối thơm ngọt, tôi mở lời rằng mình từ xa về, muốn tìm hiểu chuyện xưa tích cũ về cụ Kim Ngọc - tên thật là Kim Văn Nguộc (1917 - 1979), từng là Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc, ông được mệnh danh là "cha đẻ của khoán hộ" mà người ta quen gọi là "khoán 10", "cha đẻ của công cuộc đổi mới trong nông nghiệp" ở Việt Nam.

Nghe đến tên Kim Ngọc, đôi mắt bà trở nên hào hứng. Bà giới thiệu tên Lê Thị Nghĩa (64 tuổi), sinh ra và lớn lên ở ngay mảnh đất Đại Nội này. Bà chậm rãi kể: “Tôi hồi trẻ từng được gặp cụ Kim Ngọc vài lần, mỗi lần cụ về xã họp hay đi thăm đồng. Hồi đó còn chưa có ‘khoán 10’ đâu, chỉ nghe loáng thoáng các ông bà trong hợp tác xã nói cụ bày cách mới cho nông dân sản xuất”.

Bà ngưng một chút như hồi tưởng rồi tiếp: “Cụ Kim Ngọc thương dân lắm, lúc nào về đây cũng lội ra đồng trò chuyện với bà con. Nhưng cái thời ấy bao cấp khó khăn lắm các chú ơi. Làm quần quật cả ngày mà công điểm chẳng được là bao, mỗi công chỉ được dăm lạng thóc. Thanh niên trai tráng khỏe mạnh mà có ngày còn không được nổi 10 điểm công, thành thử thóc lúa chia về ăn chẳng đủ no”.

Bà Lê Thị Nghĩa ở thôn Đại Nội, xã Yên Lạc, tỉnh Phú Thọ hào hứng chia sẻ câu chuyện về 'khoán hộ' của ông Kim Ngọc. Ảnh: Tú Thành. 

Bà Lê Thị Nghĩa ở thôn Đại Nội, xã Yên Lạc, tỉnh Phú Thọ hào hứng chia sẻ câu chuyện về "khoán hộ" của ông Kim Ngọc. Ảnh: Tú Thành. 

Bà Nghĩa nhắc đến thời “đi làm hợp tác, điểm chấm công” với vẻ mặt ngậm ngùi. Bà bảo ngày đó, làm ruộng trong hợp tác xã kiểu gì cũng chỉ cầm chừng: “Làm nhiều hay ít cũng như nhau, thành ra ai cũng chán. Có câu ‘đầu hôm sớm mai, tối ngày đầy công’, nghĩa là có mặt đủ buổi là có công điểm, chứ năng suất chả ai đếm đoái. Ruộng hợp tác 95% diện tích mà xác xơ cả, cỏ mọc đầy, trong khi mỗi nhà được khoán mấy sào ‘5%’ thì xanh tốt mơn mởn, vì là đất riêng họ chăm cho nhà mình.

Nghe tới đây, tôi chợt nhớ đến những tư liệu lịch sử. Vào thập niên 1960, nông nghiệp miền Bắc trì trệ trong cơ chế tập thể hóa cứng nhắc. Nông dân vào hợp tác xã, làm việc đổi công lấy điểm, chia thóc theo công điểm. Cả cánh đồng là của chung, “cha chung không ai khóc” nên không ai thực sự thiết tha. Hệ quả là năng suất lúa thấp tè, nhiều nơi dân đói ăn triền miên. Vĩnh Phúc khi ấy cũng trong hoàn cảnh tương tự, và chính bối cảnh đó đã thôi thúc một con người trăn trở tìm lối ra, chính là cựu Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc thời bấy giờ.

Bà Nghĩa uống một ngụm nước rồi nghiêng người chỉ tay về phía con đường chạy dọc trước sân đền, giờ đã cạn trơ bờ cỏ: “Bên kia trước đây có cái kênh, ngày xưa là đoạn kênh mà cụ Kim Ngọc cho đào dẫn nước từ Thác Bà về. Hồi đó cụ quyết tâm làm thủy lợi, kênh lớn lắm, nước chảy tràn đồng, bà con đỡ công be tát. Giờ thời thế khác, người ta lấp đi làm đường mất rồi, chứ ngày đó nhờ kênh của cụ mà ruộng đồng bao năm thoát cảnh khô hạn đấy”.

Câu chuyện của bà Nghĩa đưa chúng tôi trở lại quá khứ hơn nửa thế kỷ trước. Thập niên 1960, ông Kim Ngọc đang giữ cương vị Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc (sau năm 1968 sáp nhập với Phú Thọ thành tỉnh Vĩnh Phú). Trước mắt ông là bức tranh nông thôn ảm đạm, hợp tác xã trì trệ, người nông dân vật lộn với đói nghèo. Ông đã nhiều đêm mất ngủ, trăn trở tìm cách cải thiện đời sống bà con nông dân. Từ thực tế quan sát 5% ruộng đất giao cho hộ gia đình xanh tốt vượt bậc, ông Ngọc nhận ra nguyên nhân gốc rễ: Nông dân cần được giao quyền chủ động, có động lực hưởng lợi từ chính ruộng đất mình canh tác. Nếu cứ duy trì kiểu quản lý “rong công, phóng điểm” (lao động tập thể nhưng hưởng thụ cào bằng) thì người nông dân chẳng khác gì kẻ làm thuê trên chính đồng đất quê hương, và chắc chắn “cái bụng” sẽ mãi rỗng.

Bóng dáng người đi trước

Với sự quả cảm của một người dám nghĩ dám làm, ông Kim Ngọc với vai trò là Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc lúc bấy giờ quyết định thử một con đường mới. Từ năm 1965, ông chỉ đạo thí điểm khoán đến nhóm và hộ xã viên tại vài hợp tác xã ở Vĩnh Tường. Kết quả thật khích lệ, có ruộng khoán, nông dân chăm bẵm hẳn lên, lúa má tốt tươi vượt trội so với ruộng chung.

Thế là ngày 10/9/1966, Tỉnh ủy Vĩnh Phúc dưới sự chủ trì của Bí thư Kim Ngọc mạnh dạn ra Nghị quyết 68, nội dung cốt lõi là thực hiện “ba khoán” trong hợp tác xã, khoán việc đến nhóm, đến người lao động, và đặc biệt khoán sản lượng cho từng hộ gia đình. Nói một cách nôm na, “khoán hộ” nghĩa là giao khoán ruộng và chỉ tiêu sản lượng cho mỗi hộ nông dân. Hộ nào làm vượt chỉ tiêu thì phần vượt thuộc về họ, không phải nộp hợp tác. Đây chính là “trao chìa khóa” cho người dân tự quyết đồng ruộng của mình.

Đồng ruộng quê hương ông Kim Ngọc hôm nay. Ảnh: An Khang. 

Đồng ruộng quê hương ông Kim Ngọc hôm nay. Ảnh: An Khang. 

Nghe chúng tôi nhắc đến “khoán hộ”, bà Nghĩa mỉm cười rạng rỡ: “Ôi dào, khoán hộ hồi đó mới đầu lén lút thế mà hiệu nghiệm đấy các chú ạ. Nghị quyết 68 vừa ban xong, bà con phấn khởi lắm. Chỉ một vụ lúa thấy khác hẳn ngay, ruộng được khoán cho từng nhà, ai cũng lao ra đồng từ mờ sớm, cày sâu cuốc bẫm, chăm bón kỹ càng như ruộng nhà mình, bởi đúng là ruộng nhà mình rồi còn gì! Lúa tốt bời bời, đầy đồng, hơn hẳn mấy vụ trước đó”.

Còn nhớ, trong các tài liệu dẫn chứng rằng, cuối năm 1967, nhiều hợp tác xã đạt năng suất lúa hơn 5 tấn một ha, con số “kỷ lục” chưa từng có khi ấy. Toàn tỉnh Vĩnh Phúc năm đó cũng có đến hơn 160 hợp tác xã đạt bình quân năng suất lúa từ 5-7 tấn/ha, sản lượng thóc đạt 197 ngàn tấn, tăng 2,7% so với năm 1964. Nhờ lúa gạo đầy kho, cái đói dần lùi xa, đời sống nông dân cải thiện thấy rõ. Bà con khắp nơi phấn khởi, kháo nhau: “Có khoán hộ, cấy cày mới có ăn”.

Thế nhưng niềm vui “ngắn chẳng tày gang”, phong trào khoán hộ ở Vĩnh Phúc bất ngờ gặp sóng gió lớn. Bà Nghĩa hạ giọng kể tiếp: “Sang đầu năm 1968, trên Trung ương có chỉ thị cấm làm khoán hộ nữa các chú ạ. Người ta bảo làm thế là “phá hoại hợp tác, đi ngược chủ nghĩa xã hội”. Rồi cấp trên phê bình, kỷ luật tỉnh mình dữ lắm. Tội cụ Kim Ngọc! Cụ bị bắt phải kiểm điểm nhận sai lầm, dù trong bụng ai cũng biết cụ đúng”.

Những thửa ruộng đang thì con gái, nối tiếp bao mùa khoán, bao mùa vàng từ di sản của người 'cha đẻ khoán 10'. Ảnh: An Khang. 

Những thửa ruộng đang thì con gái, nối tiếp bao mùa khoán, bao mùa vàng từ di sản của người "cha đẻ khoán 10". Ảnh: An Khang. 

Tôi lặng đi trước những lời của bà cụ. Lịch sử ghi lại rằng, chính Bí thư Kim Ngọc đã phải đứng trước cuộc họp kiểm điểm năm 1971, tự nhận “sai lầm nghiêm trọng” về khoán hộ. Sau lệnh cấm, các cánh đồng vừa xanh lại trở về tiêu điều. Nông dân buồn thiu, cúi mặt trở lại kiếp “lao động công điểm”, ruộng đồng lại xác xơ.

Bà Nghĩa nhớ như in: Từ 1968 trở đi, lúa lại mất mùa, đói kém triền miên. Bà con tôi ai nấy thở dài: “Biết ngay mà, không cho khoán thì lại đói rã họng thôi!”. Nhưng có cấm công khai, chúng tôi lén làm chui. Thôn này, xã kia rỉ tai nhau cứ ngầm chia ruộng cho từng nhà làm, gọi là khoán chui đó các chú. Chứ miệng thì hô hợp tác, chứ trong lòng dân người ta chỉ tin cách khoán của ông Kim Ngọc thôi. Dân đói thì dân phải tự lo cứu mình chứ!

Quả thực, sự “âm thầm làm khoán chui” ấy của người dân đã giữ cho ngọn lửa khoán hộ không tắt. Không chỉ Vĩnh Phúc, nhiều nơi khác cũng khoán chui tương tự. Điển hình như Hải Phòng, người ta lặng lẽ học tập kinh nghiệm Vĩnh Phúc để bà con có cái ăn. Dưới sức ép “cái bụng”, hạt thóc hạt gạo đã chiến thắng giáo điều.

Đúng 20 năm sau ngày Nghị quyết 68 ra đời, tình thế đất nước rẽ sang bước ngoặt. Những năm 1980, cả nước lâm vào khủng hoảng kinh tế trầm trọng, lương thực thiếu thốn, hàng triệu người đói. Bài học từ Vĩnh Phúc năm xưa được nhìn nhận lại. Năm 1981, Trung ương ban hành Chỉ thị 100 về khoán sản phẩm trong hợp tác xã, chính là hợp thức hóa một phần hình thức khoán hộ. Đến ngày 5/4/1988, Bộ Chính trị ra Nghị quyết 10 (thường gọi “Khoán 10”) công nhận hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ trong nông nghiệp. Từ đây, “cái gông” cơ chế tập thể bao cấp mới thực sự được tháo khỏi vai người nông dân.

Bà Lê Thị Phương, Giám đốc HTX Dịch vụ Nông nghiệp Nhân Lý nâng niu từng 'hạt vàng' bên cánh đồng vàng ruộm. Ảnh: An Khang. 

Bà Lê Thị Phương, Giám đốc HTX Dịch vụ Nông nghiệp Nhân Lý nâng niu từng "hạt vàng" bên cánh đồng vàng ruộm. Ảnh: An Khang. 

Lịch sử đã minh chứng tính đúng đắn của khoán hộ, chỉ sau đó vài năm, Việt Nam từ chỗ thiếu ăn triền miên đã vươn lên đủ ăn, rồi dư lúa gạo để xuất khẩu. Năm 1990, lần đầu tiên chúng ta không phải nhập khẩu lương thực cứu đói; năm 1991 đã xuất khẩu gạo, và đến 2005 trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới. Những con số biết nói ấy chính là lời tri ân muộn màng đối với ông Kim Ngọc, người đã gieo mầm cho đổi mới nông nghiệp. Tiếc rằng ông không kịp chứng kiến trái ngọt đó, bởi ông đã qua đời năm 1979 ở tuổi 62. Nhưng người dân và lịch sử không bao giờ quên ông, sau này tên ông được đặt cho một trong những con đường đẹp nhất Vĩnh Phúc, trường học ở quê hương cũng mang tên ông. Các vị lãnh đạo cấp cao sau này như Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh từng nhắc đến ông như “một người đi trước thời đại”.

Nông thôn mới - quả ngọt từ di sản “khoán hộ”

Chia tay bà Nghĩa, chúng tôi được bà chỉ dẫn sang thăm ông Kim Văn Hoãn (85 tuổi), cháu họ của cụ Kim Ngọc ở ngay đầu làng. Ông Hoãn từng là bộ đội tập kết, chiến đấu suốt những năm 1960-1970, mãi đến đầu thập niên 80 mới trở về quê làm chủ nhiệm hợp tác xã.
Nhắc đến Kim Ngọc, giọng ông trầm hẳn xuống, đầy kính trọng: Cụ Kim Ngọc từ hồi đi học bên Liên Xô về là đã nung nấu ý định phải khoán ruộng cho dân rồi. Chú bảo thẳng với cấp trên: “Nếu không giao đất cho dân, cứ để họ tiếp tục làm công điểm kiểu này, nông nghiệp sẽ đổ vỡ, nông dân sẽ đói khổ”. Nhưng thời đó ai người ta nghe. Cụ đề xuất mãi không được, buồn quá hóa sinh bệnh.

Ông Kim Văn Hoãn ở thôn Đại Nội, xã Yên Lạc, tỉnh Phú Thọ (cháu trong nội tộc nhà ông Kim Ngọc). Ảnh: An Khang. 

Ông Kim Văn Hoãn ở thôn Đại Nội, xã Yên Lạc, tỉnh Phú Thọ (cháu trong nội tộc nhà ông Kim Ngọc). Ảnh: An Khang. 

Ông kể năm 1966, Bí thư Kim Ngọc tự ý triển khai chủ trương khoán hộ ở tỉnh, thực ra cũng đã báo cáo Trung ương nhưng không được chấp thuận. Dù vậy, ông vẫn quyết làm vì “không làm thì dân chết đói”. Kết quả tốt thật, nhưng chẳng bao lâu cụ Kim Ngọc bị Trung ương phê bình nặng nề.

Ông Hoãn nhớ lại: “Hồi đó cụ Kim Ngọc bị kỷ luật. Nói là “phá vỡ hợp tác xã, đi chệch con đường xã hội chủ nghĩa”. Cuối cùng cụ Ngọc phải nhận khuyết điểm trước Tỉnh ủy. Từ đó cụ suy sụp nhiều lắm. Năm 1978 cụ nghỉ hưu, rồi mất năm sau, chẳng kịp thấy Khoán 10 được cả nước áp dụng”.

Nói đến đây, bàn tay già nua của ông Hoãn run run bưng chén trà, đôi mắt đỏ hoe ngấn nước. Ông xúc động tiếp lời: “Các chú biết không, mãi hơn chục năm sau người ta mới hiểu ra cụ Ngọc đúng. Nếu không có 'khoán 10 năm 88' thì còn lâu dân mình mới có cơm ăn đủ no. Hồi tôi mới về quê năm 1982 ấy à, đói lắm. Mỗi người dân một năm được vài cân thịt, vải vóc thì phân theo tem phiếu, cán bộ mới được 5 mét vải/năm, dân thường 4 mét, quần áo rách vá chằng vá đụp. Đến thóc gạo còn chẳng đủ ăn, nói gì chuyện khác”.

Ông kể rằng khi Chỉ thị 100 rồi Nghị quyết 10 được ban hành, cả làng vỡ òa vui sướng. Khoán hộ chính thức “sống lại”. Ông Hoãn khi đó đang làm Chủ nhiệm Hợp tác xã liền bắt tay chia ruộng đến từng nhà: “Trời ơi, phải nói chưa bao giờ tôi thấy bà con phấn khởi đến thế! Ai cũng hồ hởi ra đồng. Vụ mùa đầu tiên khoán lại, thóc đầy bồ, nhà nhà không lo đói nữa. Có gạo có tiền, người dân bắt đầu xây lại nhà cửa cho kín mưa kín nắng”.

Ông vừa nói vừa chỉ tay ra hiên: “Các chú nhìn xem, bây giờ nhà ngói nhà xây san sát, đường bê tông về tận ngõ. Chứ mấy chục năm trước, quanh đây toàn nhà tre vách đất lợp rơm thôi:.

Cổng làng Đại Nội, nơi in dấu bao thế hệ nông dân, từ di sản 'khoán 10' đến hành trình xây dựng nông thôn mới hôm nay. Ảnh: Tú Thành.

Cổng làng Đại Nội, nơi in dấu bao thế hệ nông dân, từ di sản "khoán 10" đến hành trình xây dựng nông thôn mới hôm nay. Ảnh: Tú Thành.

Nhìn cánh đồng lúa thẳng cánh cò bay, xen giữa là những cụm nhà xây, cột điện, trạm bơm, khó ai hình dung nổi đây từng là vùng quê đói nghèo.

Ông Hoãn bảo: “Từ ngày có Chương trình xây dựng Nông thôn mới, quê tôi thay đổi ghê gớm. Nhà nước đầu tư nhiều mà dân cũng đóng góp nhiều. Như huyện Yên Lạc mình mấy năm qua dân góp tiền của công sức hàng trăm tỷ đồng để làm đường, làm nhà văn hóa, trường học...”.

Tôi biết ông không nói quá, theo số liệu của tỉnh Vĩnh Phúc (cũ, trước khi sáp nhập và vận hành bộ máy chính quyền 2 cấp), riêng huyện Yên Lạc đã huy động được trên 3.676 tỷ đồng xây dựng nông thôn mới, trong đó người dân tự nguyện đóng góp hơn 625 tỷ đồng. Nhờ nguồn lực đó, 100% đường làng ngõ xóm ở Yên Lạc đã được bê tông hóa; trường học, trạm y tế, chợ nông thôn được xây mới khang trang; 90% hộ dân trong huyện được dùng nước sạch. Thu nhập bình quân người dân Yên Lạc năm 2024 đã đạt hơn 73 triệu đồng/người/năm, cao gấp nhiều lần so với trước. Hộ nghèo chỉ còn 0,55%, nghĩa là gần như không còn ai thiếu ăn thiếu mặc. Quê hương của “cha đẻ khoán hộ” giờ đây đã trở thành huyện NTM nâng cao đầu tiên của tỉnh Vĩnh Phúc (cũ), được công nhận sớm 6 năm so với kế hoạch.

Công ty TNHH Nông Lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao Bình Xuyên áp dụng công nghệ AI vào việc trồng nhân sâm Hàn Quốc. Một bức tranh nông thôn hiện đại, xanh, sạch, đáng sống đang hiện hữu, tiếp nối trọn vẹn khát vọng của Kim Ngọc thuở nào. Ảnh: An Khang. 

Công ty TNHH Nông Lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao Bình Xuyên áp dụng công nghệ AI vào việc trồng nhân sâm Hàn Quốc. Một bức tranh nông thôn hiện đại, xanh, sạch, đáng sống đang hiện hữu, tiếp nối trọn vẹn khát vọng của Kim Ngọc thuở nào. Ảnh: An Khang. 

Với những kết quả đã đạt được, Yên Lạc hôm nay đang hướng đến những mục tiêu cao hơn, xây dựng nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu, nông thôn thông minh. 

Hôm nay, nông thôn trên quê hương ông Kim Ngọc đang khoác lên mình màu áo mới, tươi sáng, chính từ sức dân và lòng dân, như một sự tiếp nối kỳ diệu của tinh thần “khoán hộ” năm xưa. Đó chính là “di sản” quý giá nhất mà Kim Ngọc để lại, niềm tin vào người nông dân, vào sự đồng lòng của cả cộng đồng, có thể biến những điều tưởng chừng không thể thành hiện thực. Và “di sản” ấy sẽ còn tiếp tục dẫn dắt các thế hệ sau trên con đường xây dựng quê hương, đất nước.

Xem thêm
Ổn định chỗ ở gắn với chuyển đổi nghề cho dân vùng sạt lở

Trà Vinh Hơn 100 hộ dân ở vùng sạt lở không chỉ được hỗ trợ chỗ ở mà còn được tạo điều kiện chuyển đổi công việc để ổn định cuộc sống.

Trưởng thôn trúng lớn nhờ chuyển đổi cây trồng

Nhờ mạnh dạn tích tụ đất đai và chuyển đổi từ trồng luồng sang trồng cam, một trưởng thôn ở Thanh Hóa đã thu về 300 triệu đồng ngay trong vụ đầu tiên.

ĐBSCL bứt phá với hơn 20 sản phẩm OCOP 5 sao

Cần Thơ Đồng bằng sông Cửu Long có hơn 20 sản phẩm OCOP được công nhận 5 sao, nổi bật với các loại gạo đặc sản, khoai lang sấy, mật thốt nốt và muối tinh.

Bình luận mới nhất