Nhìn lại thập niên 1990, tuy thoát cấm vận và bước vào giai đoạn phát triển, Việt Nam vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức. Tỷ lệ đói nghèo ở nông thôn và vùng xa xôi còn cao, sản xuất nông nghiệp chủ yếu tự cung tự cấp, chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu thị trường, trong khi công nghiệp hóa khiến lao động rời bỏ đồng ruộng.
Về ổn định tổ chức, lúc bấy giờ đất nước đang cải cách hành chính. Bộ NN-PTNT, lúc đầu được hình thành từ các bộ trước đây như Bộ Nông trường, Bộ Nông nghiệp, sau đó nhập thêm Bộ Thủy lợi, Bộ Lâm nghiệp, Bộ Thủy sản, và cả bộ phận cung cấp nước sạch, vệ sinh môi trường nông thôn từ Bộ Lao động. Ban đầu, việc hợp nhất này dẫn đến cách làm việc chưa thống nhất: mỗi bộ có phương thức riêng. Trong bối cảnh đó, nhiệm vụ đặt ra cho hợp tác quốc tế là phải thống nhất cách làm của ngành nông nghiệp, để có “một tiếng nói chung” và làm việc hiệu quả hơn với các đối tác trong và ngoài nước.

Nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đón tiếp trọng thể Bộ trưởng các quốc gia ASEAN. Ảnh tư liệu.
Hợp tác quốc tế trong cải cách nông nghiệp Việt Nam thập niên 1990
Trong giai đoạn này, hợp tác quốc tế đóng vai trò chiến lược: vừa thu hút vốn, vừa chuyển giao khoa học - công nghệ, vừa giúp hội nhập quốc tế. Thành công nổi bật nhất là ISC - một diễn đàn về chính sách nông nghiệp, nơi có 38 nhà tài trợ tham gia. Diễn đàn này còn được biết đến bằng tiếng Anh là International Policy Dialogue Group.
Ngành nông nghiệp tiếp tục thành lập nhiều đối tác chuyên ngành. Ví dụ, đối tác phát triển lâm nghiệp có 25 nhà tài trợ, tập trung vào 22 lĩnh vực như bảo vệ rừng, phát triển rừng, chế biến nông sản, xuất khẩu. Ngoài ra còn có các đối tác về nước sạch - vệ sinh môi trường nông thôn, giảm nhẹ thiên tai, phát triển bền vững…
Trong đó, Vụ Hợp tác quốc tế tổ chức diễn đàn, tiếp nhận ý kiến của các nhà tài trợ, xác định ưu tiên và cách thực hiện, cuối cùng các nhà tài trợ sẽ quyết định lĩnh vực hỗ trợ cho từng dự án.
Nhờ vậy, gần 300 dự án hợp tác quốc tế đã được triển khai, thu hút gần 9 tỷ USD từ ODA, chưa kể FDI hơn 3 tỷ USD nữa. Những chương trình này không chỉ cung cấp vốn, mà còn nâng cao kiến thức cho cán bộ: từ thiết kế dự án, theo dõi thi công, giám sát đến đánh giá hiệu quả. Nhờ sự tham gia trực tiếp của các đối tác quốc tế, cách làm việc của ngành nông nghiệp trở nên chuyên nghiệp, minh bạch và hiệu quả hơn.
Thời điểm đó, mô hình hợp tác lâm - nông nghiệp của Việt Nam trở nên nổi tiếng, được nhiều bộ, như Bộ Y tế, Bộ Giáo dục, Bộ Thương mại, Bộ Công nghiệp, Bộ Công thương… quan tâm học hỏi. Nhiều đoàn quốc tế đến tham quan, tìm hiểu cách triển khai, và các nhà tài trợ cũng đánh giá rất cao thành công này.

Đoàn công tác Việt Nam tham dự Hội nghị Bộ trưởng Nông Lâm nghiệp ASEAN + 3 lần thứ 2 năm 2002. Ảnh tư liệu.
Lúc đó, một vấn đề nữa được đặt ra là Chính phủ Việt Nam phải tham gia vào tổ chức quốc tế về vệ sinh dịch tễ và kiểm dịch động thực vật (SPS). Vì mới tham gia, Việt Nam còn khá lúng túng, chưa thật sự hòa nhập được.
Cộng đồng quốc tế và Chính phủ đều yêu cầu Bộ NN-PTNT phải có một cơ chế hoạt động quan trọng để bảo đảm chất lượng nông sản và thực phẩm của Việt Nam đáp ứng chuẩn mực quốc tế. Chính phủ giao cho Bộ thành lập Văn phòng Thông báo và Điểm hỏi đáp quốc gia về vệ sinh dịch tễ và kiểm dịch động thực vật (SPS Việt Nam). Nhiệm vụ này do Vụ Hợp tác quốc tế trực tiếp đứng ra triển khai.
Văn phòng ban đầu có ba nhiệm vụ chính. Thứ nhất, thông báo ra quốc tế về tất cả chính sách, quy định của Việt Nam liên quan đến kiểm dịch động thực vật và vệ sinh dịch tễ. Thứ hai, khi các nước thành viên WTO hoặc các đối tác khác đưa ra quy định mới, Việt Nam phải tham gia trao đổi, giám sát, để đảm bảo quyền lợi của mình không bị ảnh hưởng. Thứ ba, phối hợp xử lý các vấn đề phát sinh liên quan đến chất lượng nông sản, thực phẩm trong thương mại quốc tế.
Thành lập từ năm 2005, Văn phòng lúc đầu trực thuộc Vụ Hợp tác quốc tế. Sau đó, do khối lượng công việc ngày càng lớn, văn phòng này tách ra thành một đơn vị độc lập, hoạt động rất hiệu quả. Cho đến nay, văn phòng vẫn giữ vai trò quan trọng: minh bạch hóa các quy định quốc tế, làm rõ các yêu cầu liên quan đến kiểm dịch động thực vật và chất lượng nông sản của Việt Nam.

Ông Lê Văn Minh - Nguyên Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế (Bộ NN-PTNT). Ảnh: Đức Minh.
Dấu ấn trong hành trình hiện đại hóa nông nghiệp Việt Nam
Theo ông Lê Văn Minh - Nguyên Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế (Bộ NN-PTNT), nhiệm vụ của Vụ lúc đó không chỉ là thu hút vốn hay hội nhập, mà còn gắn liền với nhiều lĩnh vực quan trọng. Một là phòng, chống thiên tai, đặc biệt là lũ lụt, bão. Hai là phòng, chống cháy rừng. Ba là hỗ trợ xuất khẩu nông sản, nâng cao chất lượng và mở rộng thị trường. Và bốn là bảo đảm môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, giảm phát thải khí nhà kính… Tất cả những nhiệm vụ này, hợp tác quốc tế đều phải đồng hành, xây dựng được các chương trình và dự án cụ thể để triển khai.
Thành quả lớn nhất chính là nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA). Sau nhiều năm chiến tranh, đất nước nghèo, thiếu vốn, nên các nhà tài trợ quốc tế đặc biệt chú trọng vào hỗ trợ phát triển. Nhiệm vụ của hợp tác quốc tế là làm sao thuyết phục được họ, chứng minh cho họ thấy rõ những khó khăn, nhu cầu và kế hoạch của mình để họ yên tâm tài trợ.
"Nhờ vậy, trong khoảng 25 năm, Việt Nam đã thu hút được gần 200 dự án, với tổng số vốn hỗ trợ gần 9 tỷ USD. Sở dĩ thu hút được nhiều như vậy là bởi cách tổ chức hợp tác quốc tế của chúng ta rất tốt. Trước kia, mỗi bộ có cách làm riêng, thiếu thống nhất. Sau khi hợp nhất lại, chúng tôi thành lập các Ban quản lý dự án hỗ trợ quốc tế theo lĩnh vực: ngành nông nghiệp – thủy sản; ngành lâm nghiệp; ngành thủy lợi; và Ban trung tâm – gọi là SERPI (Văn phòng dự án trung tâm). Các ban này hoạt động rất hiệu quả, nhận được sự hỗ trợ về chi phí lẫn nhân lực", ông Minh cho biết.

Nhờ hội nhập quốc tế, nông sản Việt đang từng bước xuất hiện trong siêu thị nhiều quốc gia trên thế giới. Ảnh: Phương Chi.
Về thành quả hội nhập, Vụ Hợp tác quốc tế đã tham gia xây dựng các cam kết hội nhập trong nông nghiệp, nông thôn cho ASEAN, cho WTO, rồi với châu Âu và các đối tác song phương như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản. Trong đàm phán và ký kết, Việt Nam triển khai đến bảy hiệp định thương mại tự do. Ví dụ như ATIGA - Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN, chúng ta đã cắt giảm được 1.434/1.539 dòng thuế nông thủy sản theo yêu cầu quốc tế.
Về Hiệp định khung hợp tác kinh tế toàn diện, nước ta cũng ký và thực hiện rất tốt. Ngoài ra còn có hiệp định với Ấn Độ, rồi các FTA trong ASEAN với Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan… sau đó đến năm 2015 thì mở rộng thêm với Campuchia, Lào, Myanmar, Việt Nam. Bên cạnh đó, Việt Nam đã ký được hiệp định song phương với Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc. Đấy là những thành tựu hội nhập rất lớn.
"Ngoài ra, phải kể đến hợp tác Nam - Nam. Đây là một hành trình quan trọng, nhất là với các nước nghèo ở phía Nam. Một số tổ chức quốc tế đã đưa ra chương trình giúp đỡ để cùng phát triển, tập trung chủ yếu vào an ninh lương thực và xóa đói giảm nghèo.
Việy Nam còn triển khai hợp tác bốn bên với Pháp và Tổ chức Lương thực và nông nghiệp của Liên hợp quốc (FAO), tham gia các chương trình an ninh lương thực tại Anh, Tanzania, Namibia, Mozambique, Gambia và Gabon. Chúng ta cũng phối hợp với một số tổ chức quốc tế khác hỗ trợ Cuba và Venezuela trong lĩnh vực trồng lúa và phát triển nông thôn. Nhờ những đóng góp này, uy tín của ngành nông nghiệp Việt Nam trong cộng đồng quốc tế, đặc biệt là ở châu Phi, ngày càng được nâng cao. Nhiều quốc gia đã bày tỏ lòng cảm ơn đối với sự hỗ trợ của nước ta", ông Minh chia sẻ.
Song song với đó, hợp tác với các tổ chức phi chính phủ cũng đạt nhiều kết quả tích cực. Ngành nông nghiệp đã triển khai 299 dự án, tuy quy mô nhỏ nhưng tập trung vào phát triển nông thôn, góp phần cải thiện sinh kế và đời sống của người dân. Đây là những thành tựu quan trọng của ngành nông nghiệp Việt Nam trong giai đoạn trước.
Nâng cao chất lượng nông sản và thay đổi phương thức hợp tác
Tuy nhiên, bối cảnh hiện nay đã khác. Nếu như trước đây, chúng ta còn phụ thuộc nhiều vào tài trợ quốc tế thì nay Việt Nam đã vươn lên thành một quốc gia xuất khẩu lớn về gạo, thủy sản và gỗ. Các nhà tài trợ quốc tế bắt đầu xem Việt Nam như một đối tác cạnh tranh. Vì vậy, phương thức hợp tác cần phải thay đổi.

Việt Nam đang từng bước nâng cao chất lượng nông sản, tiêu biểu là triển khai Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao ở ĐBSCL. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.
Theo ông Minh, điều quan trọng nhất hiện nay là phải nâng cao chất lượng nông sản, từ gạo, cá, gỗ cho đến thịt và các sản phẩm khác, để có thể mở rộng xuất khẩu. Trước hết sang những thị trường dễ tính và sau đó tiến tới chinh phục những thị trường khó tính hơn. Thực tế, một số nhà tài trợ quốc tế cũng đã hỗ trợ Việt Nam triển khai, chẳng hạn như Chương trình 1 triệu hecta lúa chất lượng cao. Đây là một hướng đi rất thiết thực, góp phần củng cố năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam.
Thứ hai, phải xây dựng và đào tạo một đội ngũ chuyên gia giỏi, có khả năng tiếp cận và làm chủ công nghệ tiên tiến của thế giới trong nông nghiệp. Đây là nền tảng để Việt Nam có thể áp dụng phương thức sản xuất hiện đại và hội nhập sâu vào các chuỗi giá trị toàn cầu.
Thứ ba, người nông dân cần thay đổi tư duy và phương thức sản xuất. Lâu nay, bà con vẫn còn quen theo lối canh tác truyền thống, nhưng hiện nay phải từng bước chuyển sang sản xuất theo các tiêu chuẩn quốc tế như EurepGAP, VietGAP... để vừa đáp ứng nhu cầu xuất khẩu, vừa phục vụ thị trường trong nước với sản phẩm chất lượng cao.
Thứ tư, định hướng phát triển bền vững phải gắn với các mục tiêu lớn như phòng chống thiên tai, phát triển nông thôn và thích ứng với biến đổi khí hậu. Đây không chỉ là trách nhiệm trong nước mà còn là đóng góp tích cực của Việt Nam vào xu thế phát triển bền vững toàn cầu.
Cuối cùng, một yếu tố then chốt là năng lực ngôn ngữ. Trong bối cảnh hội nhập, cán bộ ngành nông nghiệp cần giỏi ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh, thậm chí cả tiếng Trung Quốc và một số ngôn ngữ khác. Không chỉ ở mức giao tiếp, đội ngũ cán bộ phải thành thạo để có thể trực tiếp đàm phán và thống nhất các vấn đề hợp tác ngay tại bàn hội nghị.