| Hotline: 0983.970.780

Thủy lợi kiến quốc [Bài 2]: 'Vạn lý đường kênh' hồi sinh ĐBSCL

Thứ Sáu 29/08/2025 , 08:14 (GMT+7)

Với việc xây dựng ‘vạn lý đường kênh’ dẫn nước ngọt và hệ thống cống thủy lợi, đê bao, những vùng đất chua phèn Đồng Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên đã ‘sống dậy’.

Những tuyến kênh "xóa sổ" hàng triệu ha đất phèn

Từ sau ngày giải phóng miền Nam, với tầm nhìn chiến lược về đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), Đảng, Nhà nước đã dành sự quan tâm và nguồn lực đầu tư phát triển hệ thống thủy lợi để dẫn nước ngọt, thau chua rửa mặn cho vùng đất này.

GS Đào Xuân Học - nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chủ tịch Hội Thủy lợi Việt Nam chia sẻ, nếu ở miền Bắc, chúng ta hình thành hệ thống đê bao đóng kín, không đưa lũ vào trong để tận dụng phù sa và phát triển đa dạng hệ sinh thái cũng như các giá trị khác từ lũ, thì ở miền Nam, thành tựu lớn nhất mà ngành thủy lợi làm được là dùng lũ để cải tạo phèn (từ 1,8 triệu ha đất phèn thời điểm trước năm 1975 xuống còn 130.000 - 150.000 ha như hiện nay).

GS. TS Đào Xuân Học - nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Chủ tịch Hội Thủy lợi Việt Nam. Ảnh: Đồng Thái.

GS. TS Đào Xuân Học - nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Chủ tịch Hội Thủy lợi Việt Nam. Ảnh: Đồng Thái.

Là một trong số các chuyên gia, nhà khoa học từ Bắc vào ĐBSCL để nghiên cứu phương án thau chua, rửa mặn từ thập niên 1980, ông Nguyễn Ty Niên, nguyên Cục trưởng Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống lụt bão nhớ lại: “Nhiều phương án của Hà Lan, Hoa Kỳ… đã được đề xuất để cải tạo khu vực Đồng Tháp Mười, nhưng chúng tôi nhận thấy, tất cả đều tốn kém. Việt Nam buộc phải chọn con đường khác, nhất là trong bối cảnh đất nước còn nghèo”, ông Niên nhớ lại.

Khi ấy, trực tiếp Tổng Bí thư Lê Duẩn đã nhiều lần làm việc với cả hệ thống thủy lợi để tìm cách tháo gỡ cho mấy triệu ha đất nhiễm phèn. Đặc biệt là ba tiểu vùng Đồng Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên và bán đảo Cà Mau, vào mùa mưa thì thừa nước, lũ ngập mênh mông, nhưng mùa khô thì thiếu nước trầm trọng, đất nứt nẻ, phèn xì lên từ những lớp đất phèn bên dưới bị oxy hóa.

Tâm niệm nếu không giải quyết được vấn đề thủy lợi thì không thể đảm bảo an ninh lương thực, ngành thủy lợi đã sáng tạo ra cách làm “vạn lý đường kênh” dẫn nước ngọt, cho phép ém phèn để canh tác lúa, thau chua và rửa mặn.

Hiểu nôm na, cán bộ sẽ cùng với người dân ém phèn tầng sâu, rửa phèn tầng mặt. Lúc nào cũng phải giữ cho ruộng có nước để nhấn chìm phèn xuống tầng sâu, không cho phèn “xì” lên nâng cao nồng độ lớp bề mặt. Còn phèn tầng mặt thì thay nước liên tục rửa đi.

Chính quyền và nhân dân các địa phương cũng đầu tư xây nhiều cống ngăn mặn, nhằm giữ ngọt và “ngọt hóa” những vùng bị nhiễm mặn, góp phần tăng diện tích canh tác lúa vụ hai. Kết hợp biện pháp gieo sạ có một không hai là “sạ ngầm”, ĐBSCL giờ trở thành vựa lúa chính của cả nước.

Kênh Hồng Ngự là công trình thủy lợi đầu tiên chinh phục vùng đất hoang sơ, được người dân gọi với cái tên trìu mến là “kênh Trung ương”. Nhờ có công trình này mà diện tích khai thác vùng Đồng Tháp Mười tăng lên rất lớn.

Dự án nâng cấp, cải tạo kênh Hồng Ngự - Vĩnh Hưng đoạn từ kênh Phước Xuyên 28 đến ngã năm kênh Cả Môn đã hoàn thành nạo vét.

Dự án nâng cấp, cải tạo kênh Hồng Ngự - Vĩnh Hưng đoạn từ kênh Phước Xuyên 28 đến ngã năm kênh Cả Môn đã hoàn thành nạo vét.

Theo GS Đào Xuân Học, tiếp nối kênh Hồng Ngự thắng lợi, chúng ta bắt tay làm 8 kênh lớn thau chua rửa phèn cho vùng Tứ giác Long Xuyên (gồm các kênh Châu Đốc, Vĩnh Tế, Cái Sắn, Xẻo Chà, Rạch Giá - Hà Tiên, Cái Trêm, Cà Mau, và kênh 30/4).

"Trước đó, những người phụ nữ miền Bắc di cư vào vùng Tứ Giác Long Xuyên bị lở loét hết vì nhiễm phèn, nhưng nhờ các công trình dùng lũ để cải tạo phèn, đã giải quyết được vấn đề này. Đó cũng là công trình đột phá thứ hai ở miền Nam, có dấu ấn chỉ đạo rất quyết liệt của Thủ tướng Võ Văn Kiệt và đóng góp khoa học của Giáo sư Nguyễn Sinh Huy (giảng viên trường Đại học Thủy lợi). Lúc đó không phải không có ý kiến phản đối, nhưng kết quả đã rất thành công. Có thể hình dung, khi mình thống nhất đất nước, sản lượng lúa ở ĐBSCL chỉ 4 triệu tấn, bây giờ đạt khoảng 25-27 triệu tấn", GS Đào Xuân Học chia sẻ.

Hệ thống thủy lợi vùng ĐBSCL đang chuyển dịch theo hướng thông minh, đa mục tiêu, khai thác tối đa nguồn lợi từ nước mặn, nước lợ và nước ngọt phục vụ sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Ảnh: Đồng Thái.

Hệ thống thủy lợi vùng ĐBSCL đang chuyển dịch theo hướng thông minh, đa mục tiêu, khai thác tối đa nguồn lợi từ nước mặn, nước lợ và nước ngọt phục vụ sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Ảnh: Đồng Thái.

Những dự án nổi bật ở 3 vùng sinh thái ĐBSCL

Ông Vũ Viết Hưng, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi, cho biết: Trong khoảng 20 năm qua, bằng các nguồn lực khác nhau, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trước đây, nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường và các địa phương đã đầu tư xây dựng nhiều công trình thủy lợi để điều hòa, kiểm soát nguồn nước ở vùng ĐBSCL.

Ông Vũ Viết Hưng - Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi (Bộ Nông nghiệp và Môi trường). Ảnh: Đồng Thái.

Ông Vũ Viết Hưng - Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi (Bộ Nông nghiệp và Môi trường). Ảnh: Đồng Thái.

Đặc biệt, các hệ thống công trình thủy lợi theo vùng sinh thái tại vùng đất ‘chín rồng” đã được nghiên cứu, lập quy hoạch, đầu tư xây dựng một cách đồng bộ, bài bản, phù hợp với điều kiện địa hình, thủy văn, thủy lực dòng chảy, hệ sinh thái nông nghiệp trong từng tiểu vùng, tập quán canh tác, đời sống của người dân tại khu vực.

Cụ thể, đối với vùng thượng (vùng sinh thái nước ngọt) thường xuyên chịu ảnh hưởng của ngập lũ, có nguồn nước dồi dào, cơ bản không bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn. Tuy nhiên, vào những năm dòng chảy kém, mực nước trong sông, kênh thấp, gây khó khăn cho việc tưới tự chảy và chuyển nước đến một số khu vực xã dọc sông Tiền và sông Hậu (thuộc các tỉnh Long An và Kiên Giang trước đây, gây tình trạng thiếu nước. Sản xuất nông nghiệp trong vùng chủ yếu là trồng lúa, rau màu và nuôi trồng thủy sản nước ngọt.

Việc đầu tư các dự án thủy lợi tại vùng này hướng đến mục tiêu: chủ động kiểm soát lũ cực đoan, phòng chống sạt lở bờ sông để bảo vệ khu dân cư, công trình hạ tầng, diện tích trồng lúa 2 vụ, nuôi trồng thủy sản, cải tạo các trục thoát lũ ra biển Tây, Đồng Tháp Mười. Đồng thời gia cố hệ thống đê, nạo vét kênh mương, tăng khả năng chủ động lấy nước, trữ nước, tiêu thoát và điều tiết lũ…

Từ những mục tiêu trên, các dự án thủy lợi tiêu biểu đã được đầu tư tại vùng thượng, đó là dự án đầu tư xây dựng công trình Mở rộng kênh Tân Thành - Lò Gạch giai đoạn 2; kênh Hồng Ngự - Vĩnh Hưng (tỉnh Đồng Tháp và Long An cũ); dự án nạo vét kênh An Phong Mỹ Hòa Bắc Bình Đông, kênh Trà Sư, Tha La; dự án xây dựng cống Tha La, cống Trà Sư; dự án quản lý vùng thượng nguồn tỉnh An Giang, Đồng Tháp và mô hình sinh kế thuộc dự án WB9.

Đối với vùng giữa (vùng chuyển tiếp ngọt - lợ), ông Vũ Viết Hưng mô tả, đây là vùng chịu tác động mạnh bởi thủy triều, nguồn nước trên sông luân phiên mặn - ngọt, các khu vực được kiểm soát xâm nhập mặn bằng các hệ thống thủy lợi, nguồn nước chủ yếu là nước ngọt. Đây là vùng tập trung cây ăn quả, dễ bị tổn thương bởi hạn hán, xâm nhập mặn, ngập lụt, úng.

Nhờ thi công vượt tiến độ cống âu thuyền Ninh Quới và đưa vào vận hành trước thời điểm hạn mặn lịch sử năm 2019-2020 đã góp phần giảm thiểu rất lớn thiệt hại do xâm nhập mặn đối với vụ lúa đông xuân tại ĐBSCL. 

Nhờ thi công vượt tiến độ cống âu thuyền Ninh Quới và đưa vào vận hành trước thời điểm hạn mặn lịch sử năm 2019-2020 đã góp phần giảm thiểu rất lớn thiệt hại do xâm nhập mặn đối với vụ lúa đông xuân tại ĐBSCL. 

Việc đầu tư các dự án thủy lợi tại đây hướng đến mục tiêu hoàn thiện hệ thống công trình thủy lợi để chủ động cấp nước; nâng cấp đê bao, bờ bao bảo vệ đô thị, khu dân cư; hệ thống kênh mương, bờ bao vùng cây ăn trái, nuôi trồng thủy sản tập trung để đảm bảo liên thông trao đổi nước…

Các dự án thủy lợi tiêu biểu đã được đầu tư tại vùng giữa để đáp ứng mục tiêu nhiệm vụ trên gồm: Dự án nạo vét kênh Cần Thơ - Huyện Hàm (Đồng Tháp - Vĩnh Long), hệ thống phân ranh mặn gọt tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu (cũ); hợp phần 3 - Thích ứng với chuyển đổi độ mặn vùng cửa sông và mô hình sinh kế tỉnh Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Bạc Liêu (cũ) thuộc dự án WB9; dự án thủy lợi Nam Bến Tre, dự án cống âu thuyền Ninh Quới…

Đối với vùng ven biển (vùng sinh thái mặn - lợ) là vùng tiếp giáp với vùng giữa và biển, hệ sinh thái hoàn toàn không ảnh hưởng bởi ngập lũ, xa nguồn nước ngọt từ Mê Kông, nhưng chịu tác động mạnh bởi triều cường và các tác động từ biển. Sản xuất chính trong vùng ven biển là nuôi trồng thủy sản nước mặn, lợ với hai hình thức nuôi chính là thâm canh và nuôi theo hình thức tôm lúa.

Việc đầu tư hệ thống công trình thủy lợi vùng này hướng đến mục tiêu hoàn thiện hệ thống thủy lợi kiểm soát nguồn nước để cấp nước sinh hoạt, chủ động cấp nước ngọt, mặn phục vụ sản xuất, nuôi trồng thủy sản; hạn chế sử dụng nước ngầm phục vụ sinh hoạt và nuôi trồng thủy sản nhằm phòng tránh sụt lún, sạt lở; ứng dụng công nghệ thu, trữ, xử lý nước tại chỗ phục vụ sinh hoạt trong thời gian hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn, công nghệ xử lý nước thải nuôi trồng thủy sản.

Các dự án thủy lợi tiêu biểu đã được đầu tư tại vùng để đáp ứng nhiệm vụ trên là: Hệ thống thủy lợi Tiểu vùng X - Nam Cà Mau và các mô hình sinh kế thuộc dự án WB6; Hợp phần 4 - Bảo vệ khu vực bờ biển vùng bán đảo và các mô hình sinh kế tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang (cũ) thuộc dự án WB9; Dự án hệ thống thủy lợi Tiểu vùng II, III, V Cà Mau; Dự án Hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé giai đoạn 1 tỉnh Kiên Giang, Cà Mau, Hậu Giang và Bạc Liêu (cũ)…

Ông Vũ Viết Hưng cũng cho biết, quá trình đầu tư xây dựng các hệ thống công trình thủy lợi tại khu vực ĐBSCL có sự quan tâm đặc biệt từ Quốc hội, Chính phủ, sự đồng thuận của các bộ, ban, ngành trung ương, sự hỗ trợ, hưởng ứng nhiệt tình của chính quyền và nhân dân các địa phương, vùng với quyết tâm cao của lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Đặc biệt, đã có nhiều thay đổi trong tư duy và nhận thức khi đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi tại ĐBSCL.

Hành trình chuyển đổi tư duy phát triển

Ông Hưng phân tích thêm, về quan điểm, đó là sự thay đổi tư duy phát triển, chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp thuần túy, chủ yếu là sản xuất lúa sang tư duy phát triển kinh tế nông nghiệp đa dạng, đáp ứng nhu cầu của thị trường, chuyển từ phát triển theo số lượng sang chất lượng.

Tôn trọng quy luật tự nhiên, phù hợp với điều kiện thực tế; chọn mô hình thích ứng theo tự nhiên, thân thiện với môi trường và phát triển bền vững với phương châm chủ động sống chung với lũ, ngập, nước lợ, nước mặn; xây dựng các kịch bản, giải pháp ứng phó hiệu quả với thiên tai như bão, lũ, hạn hán và xâm nhập mặn trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng và phát triển thượng nguồn sông Mê Kông. Trên cơ sở đó, mọi hoạt động đầu tư phải được điều phối thống nhất, bảo đảm tính liên vùng, liên ngành, có trọng tâm, trọng điểm, có lộ trình hợp lý.

Về giải pháp công trình, chuyển từ công trình ngăn mặn, giữ ngọt để sản xuất lúa sang công trình kiểm soát nguồn nước để sản xuất bền vững theo các hệ sinh thái (mặn, ngọt, lợ) vừa trồng lúa, cây ăn trái, vừa nuôi trồng thủy sản. Đa mục tiêu hóa công trình thủy lợi khi kết hợp giao thông thủy, bộ, du lịch và cấp nước sinh hoạt.

Cống Láng Thé - tỉnh Vĩnh Long mới, là công trình cống kết hợp cầu giao thông, gồm 10 cửa x 7,5M. Ảnh: CPO Thủy lợi.

Cống Láng Thé - tỉnh Vĩnh Long mới, là công trình cống kết hợp cầu giao thông, gồm 10 cửa x 7,5M. Ảnh: CPO Thủy lợi.

Về biện pháp công trình, ông Hưng cho biết, đã có sự chuyển đổi từ hình thức cống truyền thống sang cống xà lan di động, cống đập trụ đỡ, trong đó cống đập trụ đỡ là một bước chuyển quan trọng để nâng cao năng lực của đội ngũ thiết kế, thi công, giám sát và quản lý khi rút ngắn thời gian thi công đáng kể, giảm diện tích giải phóng mặt bằng, thi công trực tiếp dưới lòng sông mà không cần đào kênh dẫn dòng như công nghệ cống truyền thống, tăng mặt cắt ướt của cống gần bằng mặt cắt ướt của kênh tự nhiên.

Đặc biệt, chuyển từ cửa van tự động sang cửa van cưỡng bức để chủ động điều tiết và kiểm soát nguồn nước. Trong số các công trình đó, cống Cái Lớn áp dụng công nghệ cống đập trụ đỡ là công nghệ cống kiểm soát nguồn nước lớn nhất trong cả nước cũng như vùng Đông Nam Á.

Từ những kết quả nêu trên cho thấy, các dự án thủy lợi do Bộ làm cấp quyết định đầu tư cùng với hệ thống các công trình được đầu tư bằng nguồn lực khác từ trung ương đến địa phương, đã góp phần đồng bộ hệ thống thủy lợi tại ĐBSCL để thực hiện các nhiệm vụ tưới, tiêu, phòng, chống ngập úng, kiểm soát mặn, sạt lở bờ sông, xói lở bờ biển, góp phần phát triển kinh tế - xã hội trong khu vực.

Khu vực ĐBSCL đã trở thành trung tâm sản xuất nông nghiệp lớn nhất của Việt Nam, đóng góp 50% sản lượng  lúa, 65% sản lượng nuôi trồng thủy sản và 70% các loại trái cây của cả nước; 95% lượng gạo xuất khẩu và 60% sản lượng cá xuất khẩu. Để đạt được thành tự đó, các công trình thủy lợi đóng vai trò quan trọng trong việc chủ động phục vụ canh tác, đa dạng hóa cá loại hình sản xuất phát triển kinh tế nông nghiệp của các địa phương.

Xem thêm
Không gian mái đình kể câu chuyện 80 năm ngành gỗ Việt

Từ kim ngạch xuất khẩu vài trăm triệu USD đến kỷ lục 16,25 tỷ USD năm 2024, ngành gỗ đang khẳng định vị thế, đóng góp lớn cho GDP và việc làm.

Bình luận mới nhất