"Chưa thắng giặc Mỹ, chưa về Bách khoa"
Những ngày cuối tháng Tư, hơn mười cựu chiến binh Đại học Bách khoa Hà Nội đứng lặng trước tượng đài "Cán bộ và sinh viên xếp bút nghiên lên đường bảo vệ Tổ quốc". Những mái đầu bạc trắng, những gương mặt lấm tấm vết đồi mồi, những bàn tay run run chạm nhẹ lên lớp đá nhẵn theo năm tháng… Chiến tranh đã lùi xa, nhưng không ai trong số họ lãng quên thời hoa lửa mà lớp lớp cán bộ, sinh viên Bách khoa đã sống, cống hiến cho Tổ quốc. Sân trường, tán cây, giảng đường, bậc thềm - chứng nhân của lời thề thắng Mỹ vẫn ở đó, trong ký ức của các cựu chiến binh - cựu sinh viên Đại học Bách khoa, mọi thứ chưa từng đổi thay.
Cựu chiến binh Phạm Gia Nghi (nhập ngũ năm 1965, nguyên Chủ nhiệm công trình “Thiết kế, chế tạo đèn đặc dụng” - đèn rùa Trường Sơn) gọi đó là những năm tháng của tinh thần “vì nước, vì dân”, thời tuổi trẻ được dẫn lối bởi tinh thần yêu nước mãnh liệt. Ông kể, trên sân trường Bách khoa ngày ấy, giai điệu của nhạc sĩ Hoàng Vân ngân lên như một lời nhắn gửi âm thầm: “Nếu có chàng trai chưa từng qua sóng gió/ Nếu có chàng trai chưa từng vượt qua nhiều thử thách gian lao/ Có lẽ nào xứng với tình em?”.
Các cựu chiến binh Bách khoa vẫn duy trì những hoạt động tri ân, tưởng nhớ đồng đội đã nằm lại chiến trường. Ảnh: Vượng Lê.
Ngày lên đường nhập ngũ, các thế hệ sinh viên Bách khoa đều có chung một lời thề: "Ra đi giữ trọn lời thề/ Chưa thắng giặc Mỹ, chưa về Bách khoa". Đến nay, những người lính trở về vẫn nhớ nguyên vẹn từng chữ.
Bước vào quân ngũ, họ không còn là sinh viên Thủ đô lãng mạn. Họ là người lính giữ kỷ luật, ghi nhớ lời Bác Hồ dặn: Khó khăn nào cũng vượt qua, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Họ mang theo tri thức khoa học công nghệ vào chiến trường, cùng đồng đội chiến đấu và quyết tâm chiến thắng kẻ thù.
GS Nguyễn Văn Cách, nguyên Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Đại học Bách khoa Hà Nội, quả quyết: "Trong kháng chiến chống Mỹ, không chỉ có tinh thần, lòng quả cảm mà phải dùng trí tuệ để đấu với kẻ thù. Lòng dũng cảm là nền tảng nhưng nếu chỉ có quả cảm thì chưa đủ, mà phải có tri thức".
Trí tuệ Bách khoa thắp sáng đường Trường Sơn
Năm 1966, tuyến giao thông huyết mạch Trường Sơn của ta đứng trước một bài toán chưa từng có trong bất kỳ giáo trình nào khi xe chạy ban ngày bụi cuốn lên, máy bay Mỹ đánh theo dải bụi, chạy ban đêm bật đèn pha thì bị phát hiện và oanh kích. Các đoàn xe cơ giới thiệt hại nặng đến mức phải rút về hậu cứ. Xe đạp thồ, ngựa thồ không thể gánh đủ nhu cầu chiến trường. Mạch máu chi viện đứng trước nguy cơ đứt gãy.
Giữa lúc đó, từ chiến trường gửi ra một bức thư của người lính lái xe Trường Sơn bị thương, không còn sức chiến đấu. Anh có một nguyện vọng: làm sao có một loại đèn để những người còn lại đủ soi sáng đường nhưng không bị địch phát hiện để bộ đội hạn chế thương vong. Bức thư được chuyển đến Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần Đinh Đức Thiện và Giáo sư Trần Đại Nghĩa. Từ bức thư này, một “công trình bí mật” đã được cấp trên giao cho Cục Quản lý xe, Tổng cục Hậu cần…
Đáp ứng tiếng gọi từ Trường Sơn và triển khai nhiệm vụ cấp trên giao cho Cục Quản lý xe máy, Cục trưởng Vũ Văn Đôn trực tiếp chỉ đạo nhóm kỹ sư của Cục gồm: Thiếu úy, kỹ sư Phạm Gia Nghi - chủ nhiệm công trình, cùng đại úy, kỹ sư Trần Văn Hải nghiên cứu thiết kế, chế tạo một loại đèn đặc dụng. Kỹ sư Phạm Gia Nghi khi ấy vừa tốt nghiệp Bách khoa.
"Phải thực hiện bằng được công trình này, không thể khác" - kỹ sư Phạm Gia Nghi đặt quyết tâm. Thế hệ của ông là thế hệ kỹ sư đầu tiên phục vụ quân đội trong kháng chiến. Trước một đối thủ tiềm lực quân sự mạnh và vũ khí tối tân, nếu mình không lấy khoa học khống chế lại thì mình sẽ hao tổn sức người và sẽ sớm thua.
Năm 2005, đèn rùa “cứu mạng” của ông Phạm Gia Nghi cùng nhóm tác giả đã được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về Khoa học và Công nghệ. Ảnh: Minh Toàn.
Kỹ sư Phạm Gia Nghi đã tìm và vận dụng mọi loại đèn từ nhiều nước nhưng đều không dùng được. Tự chế tạo cũng thất bại. Bước ngoặt đến từ một quan sát của ông với thông tin ở chiến trường gửi về khi đêm trăng rằm, xe không cần đèn vẫn vượt trọng điểm an toàn. Từ đó, ông xác định nguyên lý mấu chốt là ánh sáng "như trăng rằm". Sáu tháng mày mò, chiếc đèn ra đời, mang mật danh C35.
Phòng thí nghiệm của ông không là giảng đường mà là con đường Sơn Tây - Đá Chông trong đêm tối. Kết quả thử nghiệm cho thấy máy bay phát hiện mọi ánh sáng, trừ những chiếc xe dùng đèn C35.
Thành công ấy chưa đủ để khẳng định nên Bộ Quốc phòng yêu cầu thử nghiệm trực tiếp tại chiến trường. Thế là kỹ sư Phạm Gia Nghi lên đường, mang 10 chiếc đèn, vượt phà Xuân Sơn đêm Giao thừa Đinh Mùi 1967, hành quân bộ qua các trọng điểm, qua cua chữ A dưới bom đạn, vào tận Lùm Bùm gặp Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên.
Khi các lái xe còn e ngại, ông nói: "Tôi và nhóm nghiên cứu sẽ là người đi trên những chiếc xe đầu tiên. Nếu trọng điểm ấy máy bay địch phát hiện và đánh sập thì người nghiên cứu sẽ hy sinh trước!". Rồi ông cùng các kỹ sư lên xe cùng chạy. Chiếc đèn cao chưa đầy 25cm, không phòng thí nghiệm, không thiết bị hiện đại, đã thắp sáng những đêm Trường Sơn mà kẻ thù không phát hiện ra.
Nhưng C35 không phải lời giải duy nhất. Khi bài toán ánh sáng được giải, một khó khăn khác lộ ra: suốt tuyến Trường Sơn không có trạm dừng, người lái xe phải ăn ngủ ngay trên cabin, uống nước suối nên dễ sốt rét. Quan sát thấy luồng khí xả nóng của động cơ, kỹ sư Nghi nghĩ ra cách tận dụng nhiệt dư để nấu cơm, đun nước ngay trên xe. Một thiết bị không tên, nhưng theo chân hàng nghìn chuyến xe, giúp người lính giữ sức trên những cung đường dài.
Không chỉ trên tuyến Trường Sơn, tư duy ấy theo chân sinh viên Bách khoa ra nhiều chiến trường từ radar, thông tin đến tên lửa. Ở tuyến biển, động cơ ô tô được cải tạo thành máy chạy ca nô cho những con tàu không số. Còn nữa, trong một trận đánh B-52, từ những quả tên lửa trục trặc, các kỹ sư đã nghiên cứu, ghép lại thành một quả hoàn chỉnh, viết lên đó dòng chữ: "Bắn là phải trúng."
Những người lính sinh viên Bách khoa đã biến chiến trường thành nơi phải tư duy trước bài toán sống còn.
Người lính Bách khoa trở về
Đợt nhập ngũ năm 1971, theo lời cựu chiến binh Nguyễn Lương Thái, lứa sinh viên Bách Khoa không vào các binh chủng kỹ thuật như trước mà biên chế vào thẳng các đơn vị bộ binh, cầm súng, mang thủ pháo, chiến đấu giữa lòng Thị xã Quảng Trị.
Trước ngày lên đường, ông Thái lên thư viện, mang theo hai cuốn sách: toán tích phân và tiếng Nga. Với hy vọng có thể được ôn luyện cho ngày trở về. Nhưng rồi ông đành phải để lại hai cuốn sách ở đâu đó trên đường hành quân, ông không còn nhớ.
Ông đi qua những trận đánh khốc liệt Thành cổ, Tích Tường, Như Lệ, Buôn Ma Thuột, Dầu Giây - Xuân Lộc… Đến ngày 17/4/1975, ông trúng đạn và bị thương trong trận đánh phản kích ở cao điểm 122 khu vực ngã ba Dầu Giây, chỉ cách ngày giải phóng gần hai tuần.
Tác giả bài viết (bên trái) nghe ông Nguyễn Lương Thái kể về ký ức chiến trường, những nơi ông đã đi qua chiến đấu như như Thành cổ, Tích Tường, Như Lệ… trở về với những vết thương và ký ức không thể gọi thành tên. Ảnh: Vượng Lê.
Hôm sau, ông được chuyển vào viện quân y mặt trận. Ngày 25/4, ông cùng 3 người bạn trốn viện, đi bộ ra đường 20 đón xe quay lại trận địa với ý định: "Chiến đấu trả thù cho mấy thằng bạn…". Nhưng vết thương tấy lên, ông đành phải nằm lại trạm quân y trung đoàn.
Trưa 30/4, tại trạm quân y, nghe tin giải phóng qua radio, gần 20 thương binh bật dậy hô: "Hòa bình rồi! Sống rồi!".
Ông chùng giọng kể: "Vui là đầu tiên. Sau đó lẫn lộn đắng cay. Vì chiến thắng được đổi bằng mồ hôi xương máu của những người đồng đội đã ngã xuống. Lúc ấy chỉ loay hoay tìm tờ giấy viết thư về nhà, báo mình còn sống".
Trong khoảnh khắc ấy, “trở về” có lẽ là điều hiển hiện rõ nhất, không chỉ với riêng ông.
Với GS Nguyễn Văn Cách, trước khi vào chiến trường, ông đã tự nhủ: nếu sống, dứt khoát về sẽ tiếp tục đi học. Sau ngày giải phóng, quân đội cho xuất ngũ, ông về thẳng phòng tổ chức nộp giấy tờ, đăng ký đi học. Năm năm chiến trường tạo ra khoảng trống lớn với giảng đường nhưng chỉ trong năm học đầu tiên, ông đã bắt kịp, trở lại nhóm sinh viên giỏi. Năm 1983, tốt nghiệp, ông được giữ lại làm giảng viên.
Những cựu chiến binh là sinh viên Đại học Bách khoa Hà Nội vẫn thường xuyên gặp mặt, ôn lại ký ức chiến trường và tưởng nhớ những người bạn đã nằm lại. Ảnh: Vượng Lê.
Buổi đầu đứng lớp trước sinh viên, ý nghĩ đầu tiên đến với ông đó là: “Mình may mắn được trở về lành lặn, được học đại học rồi giờ được đứng đây... mình càng cần nỗ lực hơn để giúp thế hệ trẻ thời bình bộc lộ, phát huy năng lực và sáng tạo cho phát triển khoa học và công nghệ".
Hình ảnh theo ông suốt những năm bom đạn là mái vòm cong trên nóc nhà C1, cột cờ đỏ phía trước, nhìn từ quán nước bên kia đường buổi chiều trước ngày lên đường. Hình ảnh ông mang từ chiến trường về Đại học Bách Khoa Hà Nội vẫn là mái vòm cong với lá cờ đỏ tung bay trên nóc nhà C1 lúc ra đi. Ngày trở về, ông đứng lặng, đúng góc ấy, trân trân ngắm hình ảnh mái vòm cong trên nóc nhà C1 và lá cờ đỏ. Ông hạnh phúc vì mình còn sống, ông khóc vì những người bạn của ông đã nằm lại chiến trường.
Chiều muộn, những cựu chiến binh Bách khoa vẫn lưu luyến trước tượng đài. Quanh họ, sân trường là sinh viên, tiếng cười nói, tiếng bước chân rộn rã, những câu chuyện về bài học, giảng đường, sách vở. Những người lính già trầm tư nghĩ: Họ đã giữ lời thề "Thắng giặc trở về", họ đã chiến đấu quả cảm bằng cả sự quả cảm của những người nằm xuống cộng lại, họ đã học thay cho những người không thể về đi học. Sân trường này, những tiếng bước chân kia, những câu chuyện nọ... sự hiển hiện của mái trường trong hòa bình chính là câu trả lời ý nghĩa nhất cho sự hy sinh xương máu và tuổi thanh xuân của một thế hệ, sự hy sinh ấy, với họ, đã được đáp đền.







!['Vác tù và' trong kỷ nguyên số: [Bài cuối] Trưởng bản mang ấm no về với Na Sang](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/hainv72/2026/07/09/0943-chatgpt-image-13_01_16-9-thg-7-2026-nongnghiep-130925.jpeg)
!['Vác tù và' trong kỷ nguyên số: [Bài 4] Tìm sức bật cho vùng biên Lũng Nặm](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/hainv72/2026/07/08/0743-5234-713aa9a4-bdd9-4792-8127-63591bd7dd01-204340_473.jpg)

!['Vác tù và' trong kỷ nguyên số: [Bài 3] Những người giữ phên dậu Lũng Pô](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/content/2026/07/07/vac-tu-va-trong-ky-nguyen-so-bai-3-nguoi-giu-lua-phen-dau-lung-po-102159_984.jpg)


!['Vác tù và' trong kỷ nguyên số: [Bài 2] Cuộc sát hạch chưa từng có ở Sơn Lương](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/content/2026/07/07/z7977664774279_68217ee29c166b4c6f3c4fc6d6cf8cdf-153440_778-061859.jpg)

