| Hotline: 0983.970.780

OECM có thể trở thành dấu ấn riêng của Đà Nẵng

Thứ Sáu 10/07/2026 , 10:01 (GMT+7)

Đà Nẵng có thể trở thành một trong những địa phương tiên phong trong việc rà soát, hoàn thiện và đề xuất hồ sơ OECM đối với các khu vực có tiềm năng.

Bà Vũ Thị Bích Hậu - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường TP. Đà Nẵng - trò chuyện cùng Báo Nông nghiệp Môi trường về giải pháp OECM (các khu vực có biện pháp bảo tồn hiệu quả khác).

Cộng đồng cùng quản lý, cùng gìn giữ, cùng hưởng lợi

Thưa bà, Chiến lược Quốc gia về Đa dạng sinh học và Khung Đa dạng sinh học toàn cầu nhấn mạnh sự tham gia đầy đủ, có ý nghĩa và hiệu quả của toàn xã hội trong bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học. Bà đánh giá như thế nào về thực tiễn cộng đồng địa phương tham gia bảo tồn tại Đà Nẵng hiện nay?

Tôi cho rằng, trong bối cảnh hiện nay, bảo tồn đa dạng sinh học không thể chỉ là nhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà nước hay lực lượng chuyên môn. Bảo tồn chỉ thực sự bền vững khi cộng đồng địa phương được nhìn nhận là chủ thể đồng hành, là những người hiểu địa bàn, gắn bó với tài nguyên và có mặt thường xuyên nhất tại hiện trường.

Bà Vũ Thị Bích Hậu - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường TP. Đà Nẵng. Ảnh: Tùng Đinh.

Bà Vũ Thị Bích Hậu - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường TP. Đà Nẵng. Ảnh: Tùng Đinh.

Đối với Đà Nẵng, nhất là sau khi không gian phát triển của thành phố được mở rộng, chúng ta có một bức tranh sinh thái rất đa dạng: có rừng, biển, sông, suối, vùng đất ngập nước, rạn ven bờ, vùng miền núi, vùng nông nghiệp và nhiều khu vực có giá trị đa dạng sinh học cao. Chính trong bức tranh đó, vai trò của cộng đồng địa phương càng trở nên quan trọng.

Thực tiễn cho thấy, tại nhiều nơi, người dân không chỉ tham gia với tư cách hỗ trợ, mà còn trực tiếp tham gia bảo vệ loài, bảo vệ sinh cảnh, tuần tra, giám sát, phát hiện sớm nguy cơ và phối hợp với chính quyền, kiểm lâm, kiểm ngư, các cơ quan chuyên môn trong việc xử lý các vấn đề phát sinh. Những mô hình như cộng đồng tham gia bảo vệ voọc chà vá chân xám ở Tam Mỹ, đồng quản lý nguồn lợi thủy sản tại rạn Bà Đậu - Hà Lộc, hay các nỗ lực bảo vệ tài nguyên ở khu vực miền núi cho thấy bảo tồn dựa vào cộng đồn g không còn là một khẩu hiệu, mà đang là một thực tiễn có giá trị.

Bài liên quan

Điều đáng quý nhất là người dân đang dần chuyển từ vị trí “người được vận động” sang vị trí “người cùng quản lý, cùng gìn giữ và cùng hưởng lợi”. Đây là nền tảng rất quan trọng để Đà Nẵng đóng góp thiết thực vào các mục tiêu của Chiến lược Quốc gia về Đa dạng sinh học và Khung Đa dạng sinh học toàn cầu, đặc biệt là mục tiêu bảo tồn hiệu quả, bao trùm và có sự tham gia thực chất của cộng đồng.

Từ các mô hình thực tiễn như cộng đồng bảo vệ voọc chà vá chân xám ở Tam Mỹ hay đồng quản lý nguồn lợi thủy sản tại rạn Bà Đậu, vai trò và sự tham gia của cộng đồng địa phương, trong đó có phụ nữ và thanh niên, cần được tiếp tục thúc đẩy trong thời gian tới?

Theo tôi, điều quan trọng là phải chuyển sự tham gia của cộng đồng từ mức “có mặt trong hoạt động” sang mức “có vai trò trong quản trị bảo tồn”. Người dân cần được tiếp cận thông tin đầy đủ, được tham gia trao đổi ngay từ khâu xây dựng kế hoạch, được trực tiếp thực hiện, được tham gia giám sát, phản hồi và được hưởng lợi công bằng từ các nỗ lực bảo tồn.

Tổ cộng đồng bảo vệ voọc chà vá chân xám thôn Tú Mỹ. Ảnh: Tùng Đinh.

Tổ cộng đồng bảo vệ voọc chà vá chân xám thôn Tú Mỹ. Ảnh: Tùng Đinh.

Phụ nữ và thanh niên là hai nhóm cần được quan tâm nhiều hơn. Phụ nữ thường gắn rất chặt với sinh kế hộ gia đình, với giáo dục con em, với duy trì các thực hành sử dụng tài nguyên hằng ngày. Thanh niên lại có lợi thế về công nghệ, truyền thông, khả năng tiếp cận tri thức mới và lan tỏa thông điệp bảo tồn theo những cách sáng tạo hơn. Nếu biết phát huy đúng, phụ nữ và thanh niên sẽ là lực lượng làm cho bảo tồn đi sâu vào đời sống, chứ không chỉ dừng lại ở văn bản hay các chiến dịch ngắn hạn.

Bài liên quan

Về phía quản lý nhà nước, Thành phố cần tiếp tục tạo điều kiện để cộng đồng được tập huấn, được hỗ trợ công cụ giám sát, được tham gia các mô hình đồng quản lý và được kết nối với sinh kế phù hợp. Bảo tồn sẽ khó bền nếu người dân chỉ thấy trách nhiệm mà không thấy quyền lợi chính đáng. Ngược lại, khi người dân thấy rằng bảo vệ rừng, bảo vệ biển, bảo vệ loài cũng chính là bảo vệ sinh kế, bản sắc và tương lai của cộng đồng mình, khi đó bảo tồn sẽ có sức sống lâu dài.

Đà Nẵng có điều kiện để làm điều này một cách bài bản, bởi thành phố có giá trị thiên nhiên phong phú, có nền tảng cộng đồng và có sự đồng hành của nhiều tổ chức, nhà khoa học, chương trình bảo tồn. Vấn đề là phải thiết kế cơ chế tham gia đủ rõ, đủ thực chất và đủ công bằng để cộng đồng không chỉ là đối tượng hưởng lợi, mà thực sự trở thành một phần của hệ thống quản lý tài nguyên tại cơ sở.

Bài học bảo tồn hiệu quả từ sự phối hợp 3 bên

Bà thấy những bài học quan trọng nào về sự phối hợp giữa cộng đồng, chính quyền và lực lượng chức năng trong công tác bảo tồn? Theo bà, sự phối hợp này cần tiếp tục được củng cố ở những khía cạnh nào trong thời gian tới?

Bài học lớn nhất là không một bên nào có thể bảo tồn một mình. Cộng đồng có lợi thế là hiểu địa bàn, hiểu tập quán, phát hiện nhanh những thay đổi tại hiện trường. Chính quyền cơ sở có vai trò tổ chức, kết nối và giải quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền địa phương. Lực lượng chuyên môn như kiểm lâm, kiểm ngư, thú y, môi trường có vai trò hướng dẫn kỹ thuật, bảo đảm căn cứ pháp lý và hỗ trợ xử lý những tình huống phức tạp. Khi các vai trò này được kết nối đúng, hiệu quả bảo tồn sẽ cao hơn rất nhiều.

Cộng đồng tuần tra, bảo vệ nguồn lợi thủy sản rạn san hô Bà Đậu (xã Tam Xuân, TP. Đà Nẵng). Ảnh: Tùng Đinh.

Cộng đồng tuần tra, bảo vệ nguồn lợi thủy sản rạn san hô Bà Đậu (xã Tam Xuân, TP. Đà Nẵng). Ảnh: Tùng Đinh.

Từ thực tiễn Đà Nẵng, tôi cho rằng cần tiếp tục củng cố 3 vấn đề. Thứ nhất là cơ chế thông tin hai chiều: cộng đồng phản ánh kịp thời, cơ quan chức năng tiếp nhận và phản hồi rõ ràng. Thứ hai là năng lực giám sát tại chỗ: người dân cần được hướng dẫn cách ghi nhận thông tin, sử dụng công cụ phù hợp, báo cáo đúng kênh. Thứ ba là cơ chế phối hợp liên ngành, bởi bảo tồn đa dạng sinh học thường không nằm gọn trong một lĩnh vực; có nơi liên quan đến rừng, có nơi liên quan đến biển, có nơi liên quan đến sinh kế, du lịch, đất đai, nguồn nước.

Tôi cũng cho rằng cần tránh cách tiếp cận coi cộng đồng chỉ là “lực lượng hỗ trợ phong trào”. Cộng đồng phải được tôn trọng như một mắt xích trong quản trị tại cơ sở. Khi cộng đồng được trao vai trò rõ ràng, được hỗ trợ đúng mức và có cơ chế phối hợp minh bạch, các mô hình bảo tồn sẽ bền vững hơn, ít phụ thuộc vào từng dự án ngắn hạn.

Nói cách khác, muốn bảo tồn lâu dài thì phải có niềm tin. Lòng tin giữa người dân với chính quyền, giữa cộng đồng với lực lượng chuyên môn, và giữa mục tiêu bảo tồn với nhu cầu sinh kế chính đáng của người dân. Khi lòng tin đó được xây dựng, công tác bảo tồn sẽ có nền tảng xã hội vững chắc hơn.

Cộng đồng được trao quyền cùng chính quyền bảo vệ môi trường góp phần thực hiện mục tiêu chiến lược đa dạng sinh học. Ảnh: Tùng Đinh.

Cộng đồng được trao quyền cùng chính quyền bảo vệ môi trường góp phần thực hiện mục tiêu chiến lược đa dạng sinh học. Ảnh: Tùng Đinh.

Định hướng và đề xuất về OECM của Đà Nẵng

Tại Đà Nẵng, nhiều khu vực do cộng đồng tham gia bảo vệ đã chứng minh sự phù hợp với các tiêu chí của một khu vực bảo tồn hiệu quả nằm ngoài các khu bảo tồn chính thức. Định hướng và đề xuất của địa phương trong việc hỗ trợ công nhận OECMs này trong thời gian tới là gì?

Đà Nẵng đánh giá OECM là cách tiếp cận rất phù hợp trong giai đoạn hiện nay. Điểm đặc biệt của OECM là không nhất thiết phải thành lập thêm một khu bảo tồn theo nghĩa truyền thống, mà là ghi nhận những khu vực ngoài hệ thống khu bảo tồn chính thức nhưng đang được quản lý, sử dụng hoặc gìn giữ theo cách tạo ra kết quả bảo tồn thực chất, lâu dài cho đa dạng sinh học.

Đối với Đà Nẵng, cách tiếp cận này có ý nghĩa đặc biệt. Sau khi không gian phát triển của thành phố được mở rộng, chúng ta có nhiều khu vực giàu giá trị sinh thái, văn hóa và sinh kế, trong đó có những nơi cộng đồng địa phương đã tham gia bảo vệ tài nguyên trong thời gian dài. Những nỗ lực đó cần được nhìn nhận không chỉ như các hoạt động tự phát hay phong trào cơ sở, mà còn như những nền tảng quan trọng của quản trị bảo tồn hiện đại.

Tôi kỳ vọng Đà Nẵng có thể trở thành một trong những địa phương tiên phong trong việc rà soát, hoàn thiện và đề xuất hồ sơ OECM đối với các khu vực có tiềm năng. Trước mắt, có thể quan tâm đến các khu vực như Tú Mỹ, xã Tam Mỹ với diện tích khoảng 30 ha; Hà Lộc – rạn Bà Đậu, xã Tam Xuân với diện tích khoảng 64 ha; cùng với các khu vực cộng đồng đang gìn giữ tốt tài nguyên tại thôn Pho, xã Sông Ko và Pà Dá, xã Bến Giằng.

Tuy nhiên, với tư cách cơ quan quản lý nhà nước, chúng tôi xác định quá trình này phải được thực hiện thận trọng, đúng quy trình và không nóng vội chạy theo danh hiệu. Điều quan trọng hơn cả là OECM phải giúp củng cố những giá trị bảo tồn hiện có, tăng cường vai trò của cộng đồng, bảo đảm sự hài hòa giữa bảo tồn và sinh kế, đồng thời không tạo ra những rào cản không cần thiết đối với quyền và lợi ích hợp pháp của người dân địa phương.

Rạn bà Đậu, xã Tam Xuân, TP. Đà Nẵng. Ảnh: Tùng Đinh.

Rạn bà Đậu, xã Tam Xuân, TP. Đà Nẵng. Ảnh: Tùng Đinh.

Cuối cùng, xin bà đúc kết bài học kinh nghiệm quan trọng trong việc triển khai dự án nhằm nâng cao năng lực, vai trò của các cộng đồng trong bảo tồn đa dạng sinh học?

Bài học bảo tồn cộng đồng từ các quốc gia trong khu vực cho thấy, cộng đồng phải được nhìn nhận là chủ thể của mô hình, không phải là lực lượng tham gia cho có. Khi cộng đồng có vai trò rõ, có quy ước, có trách nhiệm, có lợi ích và có tiếng nói trong quá trình ra quyết định, họ sẽ gắn bó lâu dài hơn với công tác bảo tồn.

Bài học thứ hai là cần một cơ chế hỗ trợ đủ bền vững. Không thể chỉ tập huấn một lần rồi kỳ vọng cộng đồng tự duy trì mãi. Cần có hỗ trợ về kỹ thuật, công cụ giám sát, sinh kế phù hợp, cơ chế chia sẻ thông tin và sự đồng hành thường xuyên của chính quyền địa phương.

Bài học thứ ba là phải biến tri thức địa phương thành một phần của quản lý hiện đại. Người dân biết mùa nào cá về, khu vực nào có loài xuất hiện, điểm nào dễ bị tác động, tuyến nào dễ xảy ra vi phạm. Nếu kết hợp được tri thức đó với dữ liệu khoa học, công nghệ giám sát và cơ chế quản lý nhà nước, hiệu quả bảo tồn sẽ thực tế hơn rất nhiều.

Đối với Đà Nẵng, những bài học này rất phù hợp để tiếp tục củng cố các mô hình. Hướng đi sắp tới không chỉ là nhân rộng mô hình, mà là nâng chất lượng mô hình: có dữ liệu hơn, có cơ chế hơn, có tiếng nói cộng đồng hơn và có khả năng được ghi nhận trong các khuôn khổ bảo tồn quốc gia, quốc tế phù hợp như OECM.

Xin cảm ơn bà!

Đà Nẵng hướng tới không chỉ là một sự ghi nhận ở cấp quốc tế, mà còn là một cơ chế để những nỗ lực âm thầm của cộng đồng được nhìn thấy, được củng cố và được tiếp nối lâu dài. Nếu làm tốt, OECM có thể trở thành một dấu ấn rất riêng của Đà Nẵng: một thành phố phát triển năng động, nhưng biết trân trọng những vùng sinh thái nhỏ bé, những cộng đồng gìn giữ thiên nhiên bền bỉ và những giá trị đa dạng sinh học đang nuôi dưỡng chính tương lai của thành phố.

(thực hiện)

Xem thêm

Bình luận mới nhất

OECM có thể trở thành dấu ấn riêng của Đà Nẵng
Phóng sự 5 ngày trước