Nhắc đến địa chất, nhiều người thường nghĩ đến những chuyến khảo sát xuyên rừng, những mũi khoan cắm sâu vào lòng đất, những tấm bản đồ phủ kín ký hiệu chuyên môn... Thế nhưng trong câu chuyện với phóng viên Báo Nông nghiệp và Môi trường, ông Nguyễn Đại Trung, Trưởng phòng Khoa học - Đào tạo - Hợp tác quốc tế và Tạp chí Địa chất (Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản) lại mở ra một bức tranh rất khác.
Xử lý mẫu trong phòng thí nghiệm tại Viện khoa học Địa chất và Khoáng sản. Ảnh: Diệu Linh.
Ở đó, địa chất không chỉ là hành trình đi tìm khoáng sản. Đó còn là lời giải cho bài toán cung cấp khoáng sản chiến lược cho vi mạch bán dẫn, năng lượng xanh, sạch, điện hạt nhân, kinh tế xanh và cả những hệ thống cảnh báo sớm thiên tai theo thời gian thực.
Không chỉ là câu chuyện dưới lòng đất
Theo ông Nguyễn Đại Trung, thế giới đang bước vào giai đoạn mà những khoáng sản chiến lược trở thành nguyên liệu đầu vào của các ngành công nghệ cao. Từ chip bán dẫn, pin lưu trữ, robot cho tới quá trình chuyển dịch năng lượng hay mục tiêu phát thải ròng bằng "0", tất cả đều cần một nền tảng tài nguyên khoáng sản được điều tra, đánh giá chính xác trữ lượng phục vụ cho phát triển bền vững, dự trữ trong tương lai.
Điều đó cũng đồng nghĩa vai trò của ngành địa chất đang thay đổi. Nếu trước đây hoạt động điều tra chủ yếu hướng tới tìm kiếm và đánh giá tài nguyên phục vụ khai thác khoáng sản thì nay phạm vi nghiên cứu đã mở rộng sang nhiều lĩnh vực mới như địa nhiệt, lưu giữ CO2, chất thải phóng xạ, chất thải độc hại dưới lòng đất, địa chất môi trường, địa chất y học, tai biến địa chất, di sản địa chất...
"Vậy nên muốn tạo đột phá, trước hết phải xác định đúng hướng nghiên cứu chiến lược cho 5 năm, 10 năm, thậm chí dài hơn, đồng thời phải bắt kịp xu thế phát triển của thế giới", ông Trung chia sẻ.
Nhiều năm qua, Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản đã chuyển trọng tâm nghiên cứu sang các lĩnh vực được xem là nền tảng của nền kinh tế tương lai. Một trong số đó là đất hiếm - nhóm khoáng sản đang được nhiều quốc gia coi là chìa khóa của công nghệ cao.
Ông Nguyễn Đại Trung nhấn mạnh đầu tư cho khoa học địa chất thực chất là đầu tư cho con người. Ảnh: Mai Đan.
Từ năm 2022, Viện đã triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu về hiện trạng, công nghệ và tiềm năng đất hiếm. Sang giai đoạn 2025 - 2026, các nhóm nghiên cứu tiếp tục tham gia điều tra các nhiệm vụ khoáng sản chiến lược ở tỷ lệ 1/50.000 và 1/10.000, trong đó có xác định nguồn gốc quặng và khoanh định các khu vực có triển vọng để phục vụ công tác tìm kiếm, thăm dò và khai thác.
Theo ông Trung, giá trị lớn nhất của những nghiên cứu này không chỉ nằm ở các báo cáo khoa học. Quan trọng hơn, chúng góp phần hình thành cơ sở dữ liệu phục vụ đánh giá tài nguyên khoáng sản chiến lược quốc gia - nền tảng để hoạch định chính sách phát triển lâu dài, mở ra hướng đột phá trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước.
Điều khiến ông Trung tâm đắc hơn cả nằm ở những hướng nghiên cứu còn khá mới mẻ đối với Việt Nam. Đó là nghiên cứu điều tra các cấu trúc địa chất có khả năng lưu giữ CO₂ phục vụ mục tiêu Net zero, nghiên cứu điều tra các khu vực chôn cất chất thải phóng xạ và chất thải độc hại phục vụ phát triển năng lượng hạt nhân. Những công việc tưởng như rất xa với đời sống lại đang trở thành yêu cầu cấp thiết khi Việt Nam đặt mục tiêu phát triển năng lượng sạch và giảm phát thải.
Ở một hướng khác, Viện cũng đang nghiên cứu địa nhiệt tầng nông - nguồn năng lượng có thể khai thác để làm mát công trình mà gần như không tạo phát thải ra môi trường.
Trước diễn biến gia tăng của mưa cực đoan, sạt lở và sụt lún, Viện đã xây dựng cơ sở dữ liệu tai biến địa chất, ứng dụng cảm biến, camera và IoT để theo dõi, cảnh báo sớm tại các khu vực có nguy cơ cao.
Cán bộ Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản kiểm tra độ hạt CMD mẫu lõi khoan. Ảnh: Nguyễn Như Trường.
Nếu trước đây các đánh giá chủ yếu được thực hiện sau khi thiên tai xảy ra thì nay mục tiêu là phát hiện sớm những dấu hiệu bất thường, giúp địa phương chủ động ứng phó trước khi rủi ro trở thành hiện thực. Đó cũng là minh chứng rõ nét cho thấy khoa học địa chất đang dần bước ra khỏi những hố khoan và bản đồ địa tầng để trở thành một phần của quá trình chuyển đổi số và phát triển bền vững.
Cần một cơ chế đủ ổn định
Nếu những câu chuyện về đất hiếm, địa nhiệt hay lưu giữ CO2, chất thải phóng xạ… cho thấy cánh cửa mới của khoa học địa chất thì phía sau những đề tài ấy lại là một thực tế ít người biết đến.
Điều khiến ông Nguyễn Đại Trung trăn trở nhất không phải là bài toán chuyên môn. "Cái khó nhất hiện nay là cơ chế và nguồn lực chưa theo kịp yêu cầu đổi mới", ông nói.
Theo ông, Nghị quyết 57 đã mở ra định hướng rất rõ cho khoa học công nghệ. Tuy nhiên, từ chủ trương đến khi một nhiệm vụ nghiên cứu thực sự được triển khai vẫn còn khoảng cách khá dài. Nhiều nhiệm vụ nghiên cứu phải điều chỉnh hồ sơ nhiều lần khiến thời gian chuẩn bị kéo dài trong khi khoa học đòi hỏi tính liên tục.
Nguồn ngân sách thường xuyên hiện không đủ bảo đảm cho hoạt động nghiên cứu của các đơn vị chuyên môn. Viện nghiên cứu phải chủ động tìm kiếm hợp đồng dịch vụ với địa phương, doanh nghiệp hoặc các đơn vị khác để duy trì hoạt động, bảo đảm nguồn thu và cải thiện thu nhập cho viên chức và người lao động.
Cán bộ Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản thu thập mẫu bùn trầm tích đáy sông Tô Lịch. Ảnh: Diệu Linh.
"Nhà khoa học cũng phải lo cuộc sống. Khi chưa bảo đảm được thu nhập thì họ buộc phải dành thời gian cho các hợp đồng dịch vụ. Điều đó ít nhiều ảnh hưởng đến quỹ thời gian dành cho nghiên cứu cơ bản", ông Trung chia sẻ.
Một nhà khoa học địa chất không thể trưởng thành sau một vài khóa đào tạo. Khác với nhiều lĩnh vực khác, kinh nghiệm của người làm địa chất được tích lũy qua từng chuyến khảo sát, từng lần lấy mẫu, từng mùa mưa bám hiện trường hay những tháng ngày lặng lẽ trong phòng thí nghiệm. Có người dành hàng chục năm chỉ để theo đuổi một hướng nghiên cứu. Có người mất nhiều năm mới đủ dữ liệu để công bố một kết quả có giá trị. Vì thế theo ông Trung, đầu tư cho khoa học địa chất thực chất là đầu tư cho con người.
"Một nhà nghiên cứu độc lập cần ít nhất 5 - 10 năm đào tạo và tích lũy kinh nghiệm mới có thể chủ trì những nhiệm vụ lớn. Nếu không có chính sách đủ dài hơi để giữ được đội ngũ thì rất khó tạo ra những đột phá thực sự", ông nói. Bởi vậy, cùng với nguồn lực tài chính, điều ông mong mỏi là một cơ chế đủ ổn định để các nhà khoa học yên tâm theo đuổi những nghiên cứu dài hạn.
Ông Trung nhấn mạnh nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu phát triển là ba mắt xích liên hoàn nhưng không thể áp dụng cùng một cơ chế đầu tư. Nghiên cứu cơ bản cần được Nhà nước bảo đảm nguồn lực vì đây là nơi tạo ra tri thức nền tảng. Từ nền tảng ấy mới có thể phát triển thành các nghiên cứu ứng dụng, rồi tiếp tục chuyển giao cho doanh nghiệp để tạo ra sản phẩm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. "Nếu yêu cầu nghiên cứu cơ bản phải có ngay sản phẩm thương mại thì rất khó. Khoa học luôn cần một khoảng lặng để tích lũy tri thức trước khi tạo ra giá trị ứng dụng", ông phân tích.
Trước tình hình đó, Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản vẫn đang nỗ lực tìm thêm những hướng đi mới. Song song với nghiên cứu chuyên môn, Viện mở rộng hợp tác với doanh nghiệp và đối tác quốc tế trong các lĩnh vực vật liệu mới, thu hồi khoáng sản chiến lược từ chất thải công nghiệp, vi nhựa và môi trường, hướng khoa học địa chất đến gần hơn với các vấn đề thực tiễn.

![Nhìn thẳng vào 'sức khỏe' nhà khoa học: [Bài 9] Mạnh dạn nghĩ lớn, làm lớn](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/resize/174x104/files/benlc/2026/07/16/5657-2-071824_442.jpg)
![Nhìn thẳng vào 'sức khỏe' nhà khoa học: [Bài 8] Cần sự công bằng và động lực sáng tạo](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/resize/174x104/files/content/2026/07/16/pgsts-dang-van-dong-cham-soc-hoa-lay-on-103239_191-082039.jpg)













