Nguyễn Duy ra Hà Nội thực hiện dự định - như ông nói: “Tôi sẽ đi xuyên Việt để đọc thơ”. Và Trường Đại học Khoa học và xã hội nhân văn - ngôi trường nơi ông từng là sinh viên là điểm dừng ý nghĩa trên hành trình thi ca này.
Tác giả bài viết và nhà thơ Nguyễn Duy.
Nhà thơ Nguyễn Duy tên thật là Nguyễn Duy Nhuệ, sinh ngày 7/12/1948 tại xã Đông Vệ (huyện Đông Sơn cũ), nay là phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa. Nguyễn Duy mồ côi mẹ sớm nên ở với bà ngoại từ nhỏ, chính vì vậy, bà ngoại là người gần gũi, thân thuộc nhất với ông, như trong bài thơ Đò Lèn ông đã viết: “Tôi đi lính, lâu không về quê ngoại/ dòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi/ khi tôi biết thương bà thì đã muộn/ bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi!”.
“Đò Lèn” của Nguyễn Duy - theo nhà văn Phạm Xuân Nguyên, sẽ là bài thơ thứ hai được chọn khắc đá ở Thanh Hóa, sau bài thơ “Tre Việt Nam” (“Đá đã chọn xong rồi” - Phạm Xuân Nguyên nói thế).
Năm 1966, 18 tuổi, Nguyễn Duy nhập ngũ, trở thành lính đường dây của Bộ đội thông tin. Đó là những năm tháng ác liệt ở chiến trường miền Nam. Sau thất bại của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” (còn gọi là Kế hoạch Staley-Taylor 1961-1965), đế quốc Mỹ chuyển sang thực hiện “Chiến tranh cục bộ” (1965-1968). Lầu Năm góc hy vọng vào ưu thế hỏa lực, công nghệ và quân số của lực lượng viễn chinh Mỹ có thể đè bẹp Quân Giải phóng miền Nam. Đây cũng là giai đoạn họ sử dụng lực lượng không quân đánh phá miền Bắc. Thanh Hóa, với các trọng điểm như Đò Lèn, Hàm Rồng, Phà Ghép... trở thành “tọa độ lửa”.
Đò Lèn (quê ngoại của Nguyễn Duy) đã ám ảnh trong tâm tưởng đứa con quê hương, và ám ảnh trong những vần thơ về quê hương của ông: “Bom Mỹ dội, nhà bà tôi bay mất/ đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền/ thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết/ bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn”.
Nhà thơ Nguyễn Duy nói chuyện thơ tại Giảng đường Trường Đại học Khoa học và xã hội nhân văn.
Nguyễn Duy đã tham gia chiến đấu nhiều năm trên các chiến trường Khe Sanh, Đường 9 - Nam Lào. Từ năm 1971 - 1975, Nguyễn Duy được điều ra Bắc học Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Năm 1975, ông trở lại quân ngũ, cùng đơn vị vào tiếp quản các cơ sở truyền tin trong khu vực sân bay Tân Sơn Nhất, Vũng Tàu, rồi tham gia mặt trận phía Nam, mặt trận phía Bắc (1979). Sau đó ông giải ngũ, làm việc tại tuần báo Văn nghệ (Hội Nhà văn Việt Nam) và là Trưởng đại diện của báo này tại phía Nam.
Ông tâm sự: “Sau ngày 30/4/1975, tôi theo một đoàn chuyên viên kỹ thuật của Bộ đội thông tin từ Hà Nội vào tiếp quản các cơ sở truyền tin trong khu vực sân bay Tân Sơn Nhất. Hôm dừng ở Huế, tôi may mắn được quen nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, rồi cùng với anh và mấy văn nghệ sĩ đang có mặt tại trụ sở Hội Văn nghệ lúc đó (gồm nhà thơ Phạm Tiến Duật, cặp nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ - Hoàng Phủ Ngọc Tường, nhà văn Tô Nhuận Vỹ, họa sĩ Bửu Chỉ, dịch giả Lê Khắc Cầm…) làm ngay cuộc thơ - nhạc “Bắc Nam sum họp”. Ngẫu hứng và ấm áp”.
Nguyễn Duy làm thơ rất sớm. Tác phẩm đầu tay của ông là bài thơ “Trên sân trường” viết từ đầu những năm 60, khi còn là học sinh cấp 3 ở trường chuyên Lam Sơn, Thanh Hóa. Nhưng phải mãi đến năm 1973, ông mới thực sự nổi tiếng với chùm thơ đoạt giải nhất cuộc thi thơ tuần báo Văn nghệ: “Hơi ấm ổ rơm”, “Bầu trời vuông”, “Tre Việt Nam”.
Khi được giải thưởng thơ của báo Văn Nghệ, Nguyễn Duy đang học năm thứ 2, Đại học Tổng hợp Hà Nội. Cũng năm đó, tập thơ “Cát trắng” - tập thơ đầu tay của Nguyễn Duy được in và phát hành đến 25 ngàn cuốn. Nói về cơ duyên gặp Bùi Giáng, Trịnh Công Sơn tại Huế, Nguyễn Duy cho biết hai ông đã thuộc nhiều thơ của mình và ngược lại, ông cũng đã thuộc rất nhiều thơ Bùi Giáng. Đúng là “Văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình”, người tài thường nể trọng nhau dù chưa gặp.
“Khi đó thơ tôi đã len lỏi vào phía Nam mà mình đâu biết” - Nguyễn Duy từ tốn kể tiếp về cuộc hội ngộ - “Khi chia tay, anh Sơn viết vội mấy dòng giới thiệu và dặn “vô Sài Gòn nhớ đến thăm bà già mình nghe, 47C Duy Tân nghe…”. Thời gian ở Sài Gòn, tôi thường đến thăm tư gia nhạc sỹ Trịnh Công Sơn, được bà mẹ và các em của nhạc sỹ đón tiếp ân cần, chuyện trò thân mật, đôi khi còn được cô út (Trịnh Vĩnh Trinh) búng guitar hát cho nghe những bản nhạc Trịnh”.
Ban ngày Nguyễn Duy ở doanh trại, ban đêm vào khi rảnh rỗi, ông thường cùng nhà thơ Phạm Tiến Duật đến nhà Trịnh Công Sơn. Ngay tại ngôi nhà ấy (nay là Nhà Lưu niệm Trịnh Công Sơn, 47C Phạm Ngọc Thạch), Nguyễn Duy đã làm hai bài thơ “Tìm thân nhân” (in trên báo Văn Nghệ Giải Phóng số Xuân Bính Thìn, 1976) và bài “Bầu trời - Mặt đất - Bàn tay”, lấy cảm hứng từ bài hát “Ca dao mẹ” của họ Trịnh.
“Mẹ ngồi ru con/ bàn tay âu yếm đung đưa vui buồn/ bàn tay thao thức đong đầy lo toan” và “dù con đi hoài/ đi dư kiếp người/ vẫn trong Bầu trời - Mặt đất - Bàn tay…”. Đây là bài thơ đầu tiên, dẫu là trong những ngày chiến thắng, nhưng ông viết về hòa hợp dân tộc. “Cho đến bây giờ “Lần nào đọc bài thơ “Tìm thân nhân”, tôi cũng khóc”, Nguyễn Duy trầm ngâm.
Trong những bài thơ ông làm còn có “Nghe tắc kè kêu trong thành phố” nổi tiếng. Ông nhớ đồng đội, nhớ 18 sinh viên cùng mình “xếp bút nghiên lên đường cầm súng” đã ngã xuống trên các chiến trường: “Đồng đội, bao người không “về tới” như anh/ nằm lại Cầu Bông, Đồng Dù, và xa nữa.../ tất cả họ, suốt một thời máu lửa/ đều ước ao thật giản dị: sắp về!”.
Trong điểm dừng chân ý nghĩa này, xung quanh Nguyễn Duy là các nhà văn hóa, nhà thơ, nhà nghiên cứu văn học; đặc biệt là các giáo viên Bộ môn Văn học và sinh viên Ngữ văn của Trường đại học danh giá này. Trong ảnh: Nhà thơ Nguyễn Duy tặng sách cho sinh viên khoa Ngữ văn.
Nguyễn Duy là một thi nhân đích thực, tài thơ của ông không chỉ là niềm tự hào của Xứ Thanh mà cả của đất nước, của những người yêu vẻ đẹp của thi ca, nâng niu tâm hồn Việt trong thi ca.
Nói về tài thơ của Nguyễn Duy, xin nhắc lại, khi đang theo học năm thứ nhất tại Khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (1971 - 1972), ông đã lọt vào “con mắt xanh” của nhà phê bình Hoài Thanh và Hoài Thanh đã nhận xét về thơ Nguyễn Duy: “…Thơ Nguyễn Duy đưa ta về một thế giới quen thuộc. Nguyễn Duy đặc biệt thấm thía cái cao đẹp của những con người, những cuộc đời cần cù gian khổ, không tuổi không tên. Đọc thơ Nguyễn Duy thấy anh hay cảm xúc, suy nghĩ trước những chuyện lớn, chuyện nhỏ quanh mình. Cái điều ở người khác thì có thể chỉ là chuyện thoáng qua thì ở anh, nó lắng sâu và dường như đọng lại…”. (Báo Văn nghệ, ngày 14/4/1972).
Hành trình vào địa hạt thi ca của Nguyễn Duy là hành trình từ truyền thống đến hiện đại. Ông đi từ con “đường làng” của miền quê Thanh Hóa tới con “đường lớn” của đất nước. Dường như Nguyễn Duy được giao “sứ mệnh” làm những cuộc chinh phục “đường xa” để minh định chân lý của vẻ đẹp, kiếm tìm những giá trị mới. Đó là một hành trình biện chứng, đoạn cuối “đường về” cội nguồn, hoàn thiện nhận thức về cuộc đời. Đối với thi ca, đó là “con đường” khám phá và giác ngộ.
“Rơm rạ ơi ta trở về đây/ Xin cúi lạy vong linh làng mạc/ Bà và mẹ hóa cánh cò cánh vạc/ Ông và cha man mác kiếp trâu cày”; “Rơm rạ ơi ta trở về đây/ Ngôi chùa cũ mái đình xưa khuất bóng/ Cỏ áy vàng bãi tha ma vắng/ Lòng ngổn ngang gò đống tổ tiên nhà” (Về đồng).
Cho đến nay, nhà thơ Nguyễn Duy đã xuất bản 18 tập thơ, 1 tiểu thuyết và 3 bút ký. Năm 2007, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Quả là “Hình hài Nguyễn Duy giống như đám đất hoang, còn thơ Nguyễn Duy là thứ cây quý mọc trên đám đất hoang ấy”, như sinh thời nhạc sỹ Trịnh Công Sơn từng nói về Nguyễn Duy và tác phẩm của ông như vậy.
Nhà nghiên cứu văn hóa, văn học dân gian Việt Nam, dịch giả Nguyễn Hùng Vĩ học sau Nguyễn Duy 2 khóa, cùng mái trường Đại học Tổng hợp Hà Nội danh giá một thời. Nguyễn Hùng Vĩ kể: Năm 1991, ông từ chiến trường Campuchia về TP.Hồ Chí Minh, gặp nhà văn, GS Hoàng Như Mai, nhắc đến Nguyễn Duy, GS Hoàng Như Mai nói: “Thơ Nguyễn Duy, nhạc Trần Tiến, kịch Lưu Quang Vũ đã góp phần “giải phóng Sài Gòn” lần thứ hai, bằng nghệ thuật”; Còn TS Chu Văn Sơn (1962-2019) thì nhận định: “Nhà thơ Nguyễn Duy của chúng ta là một nhà thơ rất thảo dân. Họ đã chưng cất ngôn ngữ dân tộc mình thành thi ca”.







![Xoá rào cản ngôn ngữ: [Bài 2] Tiếng Việt mở lối tri thức](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/content/2026/04/24/jmp00173-102437_352-083841.jpg)
![Xóa rào cản ngôn ngữ [Bài 1] Chiến lược dài hơi từ lớp học tiếng Việt](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/content/2026/04/23/jmp00226-100744_629-102938.jpg)






![5 thị trường, 1 chiến lược: [Bài 1] Tâm thế của nông nghiệp thời đại mới](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/chinq/2026/07/13/0200-local1781774249077xkbngpyyh0-105645_814.jpg)

![Arabica Sơn La: [Bài 2] Cần một hội đồng ngành hàng](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/nghienmx/2026/07/05/0330-arabica-son-la-bai-2-hoi-dong-nganh-hang-ca-phe-arabica-son-la-095602_202.jpg)