Nhà thơ Vũ Từ Trang, thi sĩ Bắc Ninh ‘toàn tòng’

Ngô Đức Hành - Thứ Tư, 01/04/2026 , 20:12 (GMT+7)

Vũ Từ Trang trong tâm trí bạn văn, là một người chỉnh chu, không ồn ào, ngay cả thế sự cũng âm thầm ưu phiền.

Nhà thơ Vũ Từ Trang tên khai sinh và Vũ Công Đính, sinh ngày 20/7/1948 tại làng Trang Liệt, xã Đồng Quang, sau là phường Đồng Kỵ, thành phố Từ Sơn cũ, sau 1/7/2025, là phường Đồng Nguyên, tỉnh Bắc Ninh (mới).

Nhà thơ Vũ Từ Trang. Ảnh: GĐCC.

Nhà thơ Vũ Từ Trang đã về “miền mây trắng”, nhưng thơ, văn ông ở lại, cùng với mái đình Đền đô, câu quan họ, vạt chiều loang loáng trên dòng sông Cầu, sông Thương. Đọc “Công việc ngày mai” của Vũ Từ Trang, đã thấy rõ điều đó: “Nơi làm việc chúng tôi là ngôi đình mái cong/ có cả phượng rồng nhìn vào bản vẽ/ ở sơ tán chỉ đơn giản thế / chúng tôi thiết kế công trình ngày mai”,

Vũ Từ Trang sau khi tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Hà Nội (mái trường sinh ra “Trường phái Thơ Thanh Xuân - Học đường” như cách định danh của nhà lý luận phê bình văn học, TS Hà Thanh Vân) thì đi làm báo, viết văn và cả kinh doanh. Ông viết nhiều thể loại văn học như truyện ngắn, tiểu thuyết, chân dung văn học, thơ và cả khảo cứu, chuyên luận.

Vũ Từ Trang làm thơ khá sớm, có thơ “trình làng” từ những năm 60 của thế kỷ trước. Di cảo thơ của ông để lại có những tác phẩm sáng tác từ lúc trai trẻ. Từ năm 1979, ông đã được tặng Giải thưởng Thơ của báo Nhân Dân và của Hội Văn nghệ Hà Nội (nay là Liên hiệp các Hội VHNT Hà Nội). Năm 2019, Vũ Từ Trang được Giải A Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam với các tập sách về chân dung văn học. Năm 2020, ông được Giải Ba trong cuộc thi tiểu thuyết lần thứ 5 (giai đoạn 2016-2019) của Hội Nhà văn Việt Nam cho tiểu thuyết “Và khép rồi lại mở”.

Với thơ, Vũ Từ Trang là người đắm đuối. Từ khi cầm bút đến lúc rời cõi tạm, Vũ Từ Trang đã in 6 tập thơ “Nắng lên cao”, năm 1977; “Thời trai trẻ”, năm 1996; “Ngược dốc”, năm 1999; “Lẻ và không lẻ”, năm 2002, “Những vòng tròn không đồng tâm”, năm 2011; “Cây chuyển mùa”, năm 2016.

Thơ Vũ Từ Trang đa dạng về đề tài, nhưng mảng thơ trữ tình về quê hương xác tín ông thuộc về Bắc Ninh. Không ai bứng ông ra được khỏi đất Quan họ. Lịch sử của vùng đất hiện lên trong “Trăng Phồn Xương”, “Thất Khê chiều”, “Nhã Nam” và làng quê yên ả hiện lên trong “Tre làng”, “Trẻ em mùa gặt”, “Ngõ quê”...

Trăng Phồn Xương” là bài thơ mang vẻ đẹp sử thi: “Ấy là đêm trăng thành Phồn Xương / đồi tung bụi lốc cây ngả nghiêng / giáo mác lập lòe dựng bên suối / mây mù vần vụ trăng đỏ ối / mặt trăng như một bát máu thề / nghĩa sĩ uống chung nguyện giết giặc”. Ấy là trăng ngày Đề Thám tụ quân, dấy nghĩa. Khởi nghĩa Yên Thế mãi mãi là một chương sử đẹp, truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc luôn luôn truyền cảm hứng, không chỉ với người Bắc Ninh.

Vũ Từ Trang là người nhận ra được mùi thơm của đất, sự nhọc nhằn của đất, lắng lo về sức khỏe của đất. “Đất ngấm mồ hôi ai / mà lòng anh thấy mặn / phải năm mưa mười nắng / cho đất thêm dẻo quánh”, (Khúc ca người thợ gốm); “Tôi đang nghe tiếng đất trở mình / thèm khát quá lăn mình trong sắc cỏ / và bừng bừng hương say cỏ úa / tôi hát thầm, ơi ngút ngát thảo nguyên” (Thảo nguyên).

Tôi hóa thân người đi gặt hái / màu mạ non tơ rờn rợn chân trời / hóa người cuốc đất, tay gieo vãi / hóa con mương chảy đầy thuyền trôi” (Ra ngoại ô). Vũ Từ Trang lớn lên từ làng, giấc mơ cả đời ông bình dị, ước làm màu mạ non, lũy tre xanh, khói bếp từ mái rạ, cây cau trước nhà...những hình ảnh gắn bó với đời sống thôn dã.

Bắc Ninh là vùng đất quan họ, quê hương của làng nghề truyền thống. Vũ Từ Trang luôn dành một mảng thơ cho làng nghề, người thợ, thân phận con người. Đó là “Khúc ca người thợ gốm”, “Quê gốm”, “Người in tranh làng Hồ”, “Nhịp điệu đá”, “Bài thơ về những chiếc ghế”, “Làng gốm Thổ Hà”, “Vân gỗ chìm”, “Người đạp xích lô ở Bắc Ninh”, “Những người thợ đá”, “Ở xưởng thủy tinh”... Nét tài hoa của người, nghệ nhân Kinh Bắc hiện lên trong “Thợ gốm”, “Quê gốm”, “Người in tranh Làng Hồ”, “Bài thơ về những chiếc ghế”...

Vũ Từ Trang mừng trước quê hương đổi mới hàng ngày, nhưng ông cũng xa xót trước nhiều biến đổi làm mất đi vẻ đẹp của làng, mai một văn hóa truyền thống, tình người cách xa. “Làng lấn sông nhà lấn ngô khoai / tôi nghe sông một tiếng thở dài” (Sau lũ); “Chẳng còn tiếng gà trưa, chó sủa thơ ngoài ngõ / chẳng còn tiếng sáo diều ngân hiện khuất đám mây chiều / chỉ thấy xe máy phóng đầy làng, ầm ào thác lũ / tiếng cổng sắt rít chói tai và khóa bấm lạnh gai người” (Hình như đêm phủ).

Có một Thổ Hà xa xót trong thơ Vũ Từ Trang. Nguồn ảnh: Trọng Chính.

Thơ về Bắc Ninh của Vũ Trừ Trang có khi còn là văn bản lưu giữ mỹ tục của quê hương. “Nhúm nhau chôn vào nồi đất / bây giờ phiêu diêu nơi đâu / những muốn kêu lên một tiếng / lưa thưa mưa trưa sông Cầu”, (Làng gốm Thổ Hà). Vũ Từ Trang giải thích rằng, tục xưa ở vùng Kinh Bắc, nhau / rốn của trẻ sơ sinh khi cắt được bỏ vào nồi đất, chôn trong vườn nhà. Người đọc thơ hiểu thêm về tục ngữ.

Tuy nhiên, bài thơ “Làng gốm Thổ Hà” cất lên tiếng thơ tiếc nuối, xa xót: “Làng gốm không còn làm gốm / thợ gốm đi tráng bánh đa / làng gốm bỏ quên không khói / đang tay người đập xây nhà”. Thời thị trường, mọi thứ do thị trường điều chỉnh, nhưng làm sao để giữ lại được làng nghề, thành tố văn hóa phi vật thể luôn là câu hỏi thời “va đập” lợi ích và tính toán thực dụng.

Vũ Từ Trang là người lãng mạn. Lãng mạn nên “uống say cả ngọn khói chiều” và còn cảm nhận được “Lưng trời, những ngọn khói lang thang”. Hay nói cách khác, vẻ đẹp Kinh Bắc qua tâm hồn ông, khúc xạ thành những thi ảnh đẹp, xác tín tâm hồn tác giả quá đỗi tinh tế, mẫn cảm:

Mùa xuân ở phía sông Cầu / rượu ngon em vừa cất mới / Giăng giăng tơ trời én bay / đò ai chờ ngoài bến nhỏ / Thôi quên vất vả một thời / mình ơi, mùa xuân đang đợi”, (Mùa xuân ở phía...). 

Vũ Từ Trang về miền siêu thoát từ lâu, nhưng hình ảnh ông trong tâm trí bạn văn là một người chỉnh chu, không ồn ào, ngay cả thế sự cũng âm thầm ưu phiền. Ông để lại tiếng lòng trên tác phẩm và các tác phẩm của ông có một đời sống riêng, vẫn thì thầm trong dòng chảy thi ca.

Thơ về Bắc Ninh của Vũ Trừ Trang có khi còn là văn bản lưu giữ mỹ tục của quê hương. Ảnh: Nguyễn Hưởng (Báo Bắc Ninh).

Ngô Đức Hành
Tin khác
Xóa rào cản ngôn ngữ cho trẻ em đồng bào khi vào lớp 1
Xóa rào cản ngôn ngữ cho trẻ em đồng bào khi vào lớp 1

Bằng nhiều giải pháp, Tây Ninh đang nỗ lực xóa rào cản ngôn ngữ cho trẻ em dân tộc thiểu số trước khi vào bậc tiểu học.

Tuần phủ Lê Trung Ngọc với việc bảo tồn di tích
Tuần phủ Lê Trung Ngọc với việc bảo tồn di tích

Lê Trung Ngọc là vị quan có tinh thần dân tộc cao và rất có ý thức trong việc bảo tồn văn hóa, di sản, cổ tích của dân tộc.

Xoá rào cản ngôn ngữ: [Bài 2] Tiếng Việt mở lối tri thức
Xoá rào cản ngôn ngữ: [Bài 2] Tiếng Việt mở lối tri thức

Tây Ninh Ở sóc Chăm Tân Ninh, rào cản ngôn ngữ dần được tháo gỡ khi trẻ em tiếp cận tiếng Việt từ sớm, tạo nền tảng tri thức và tương lai bền vững.

Xóa rào cản ngôn ngữ [Bài 1] Chiến lược dài hơi từ lớp học tiếng Việt
Xóa rào cản ngôn ngữ [Bài 1] Chiến lược dài hơi từ lớp học tiếng Việt

Tây Ninh Nghị quyết 43/2025/NQ-HĐND là giải pháp chiến lược, giúp trẻ em dân tộc thiểu số xóa rào cản ngôn ngữ, tạo nền móng vững chắc cho hành trình tri thức hóa nông dân địa phương.

Trẩy hội đền Hùng
Trẩy hội đền Hùng

Ngày mồng mười tháng ba - ngày giỗ Tổ Hùng Vương - chính là ngày kỉ niệm trong lịch sử quốc dân ta đó…

Hà Huy Thanh và triết lý tình thương
Hà Huy Thanh và triết lý tình thương

Hà Huy Thanh dù trên cương vị là người viết sách hay doanh nhân thì triết lý chung mà anh theo đuổi chỉ có một vấn đề duy nhất là triết lý tình thương.

Cù lao Rùa có một thư viện tư nhân độc đáo
Cù lao Rùa có một thư viện tư nhân độc đáo

Cù lao Rùa bình yên giữa dòng sông Đồng Nai bao bọc, đang trở thành một điểm sáng văn hóa đọc, với thư viện tư nhân của nhà báo Mai Sông Bé.

Đính chính nhỏ về một bài thơ của Phan Khôi trong 'Nhà văn hiện đại'
Đính chính nhỏ về một bài thơ của Phan Khôi trong 'Nhà văn hiện đại'

Bài thơ 'Viếng mộ ông Lê Chất' của học giả Phan Khôi trong tuyển tập 'Nhà văn hiện đại' năm 1942 có chút nhầm lẫn so với tài liệu lưu trữ gốc được số hóa.

Sinh từ và những người được lập sinh từ trong lịch sử Việt Nam
Sinh từ và những người được lập sinh từ trong lịch sử Việt Nam

Lập sinh từ là đỉnh cao của vinh danh trong văn hóa Việt Nam xưa, là phần thưởng quý giá hơn mọi sắc phong của triều đình vì sinh từ xuất phát từ lòng dân.

‘Bước chân gọi lương tri người cha’ - Một cuốn sách đáng đọc
‘Bước chân gọi lương tri người cha’ - Một cuốn sách đáng đọc

Cuốn sách là món quà, nhưng cũng là một thử thách, thôi thúc mỗi người cha hãy về nhà, gác chiếc điện thoại và những lo toan lại, cùng con mở một trang sách mới.

Hồ Anh Thái và những hé lộ từ sự dịch chuyển
Hồ Anh Thái và những hé lộ từ sự dịch chuyển

Từ sân bay đến bản thảo bỏ quên trong sảnh lễ tân, Hồ Anh Thái kiến tạo một cấu trúc kể chuyện nơi con người luôn đứng giữa những ngưỡng cửa của sự dịch chuyển.