Đau đáu với cây chè trung du cổ
Nhìn từ xa, xóm Phú Thọ, xã Vô Tranh (Thái Nguyên) giống như bức tranh được ghép bởi núi rừng và chè. Nơi đây, những dãy núi nối nhau trùng điệp, các thung lũng nhỏ đan xen với sườn đồi dốc tạo nên địa hình chia cắt đặc trưng.
Địa thế tưởng chừng khắt khe với sản xuất nông nghiệp lại trở thành "chiếc két tự nhiên" lưu giữ gần như nguyên vẹn những gốc chè trung du cổ. Bởi vậy, vùng chè nơi đây mang một dáng vẻ rất khác khi không trải rộng theo những triền đồi mà bám sâu vào đất núi.
Để những gốc chè trung du cổ tiếp tục xanh trên đất núi, vùng đất này được giữ gìn bởi những con người nặng lòng với quê hương, nặng tình với cây chè đã làm nên bản sắc của xóm làng.
Vùng chè trung du cổ của Hợp tác xã Trà an toàn Phú Đô. Ảnh: Quang Linh.
Anh Hoàng Văn Tuấn (sinh năm 1993, dân tộc Tày) là một trong những người như thế. Tốt nghiệp Thạc sĩ Quản lý Tài nguyên và Môi trường tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, thay vì lựa chọn công việc nghiên cứu hay tìm kiếm cơ hội ở những đô thị lớn, anh Tuấn quyết định trở về xã Vô Tranh (trước sáp nhập là xã Phú Đô) để bắt đầu hành trình bảo tồn và phát triển giống chè trung du cổ.
Với anh Tuấn, làm chè hữu cơ không phải là câu chuyện “ngày một ngày hai”. Đó là hành trình phục hồi đất, phục hồi hệ sinh thái và thay đổi tư duy canh tác đã hình thành qua nhiều năm.
Do đó, chàng nông dân trẻ lựa chọn con đường chậm nhưng bền vững khi giảm dần lượng phân bón hóa học thay vì cắt bỏ hoàn toàn ngay từ đầu. Theo anh Tuấn, sau thời gian dài phụ thuộc vào phân hóa học, đất đai thường suy kiệt, hệ vi sinh vật bị ảnh hưởng, cây chè cũng trở nên phụ thuộc vào nguồn dinh dưỡng vô cơ.
"Sau thời gian dài sử dụng phân hóa học, nếu dừng đột ngột mà không có lộ trình thay thế phù hợp, cây chè sẽ suy yếu nghiêm trọng. Vì vậy, chuyển đổi sang hữu cơ phải được thực hiện từng bước, có kế hoạch và đủ thời gian để đất, cây và người cùng thích nghi", anh Tuấn lý giải.
Hành trình chữa lành cho đất
Những năm đầu trở về quê hương, anh Tuấn nhận ra, sau thời gian dài canh tác phụ thuộc vào phân bón hóa học, nhiều diện tích chè tuy vẫn cho thu hoạch nhưng tầng đất bên dưới đã dần mất đi sự tơi xốp vốn có. Đất chua hơn, dinh dưỡng thấp và hệ sinh vật trong đất suy giảm trầm trọng.
Trong quá trình tìm hiểu các tài liệu về nông nghiệp tái sinh và sản xuất hữu cơ, anh Tuấn đặc biệt quan tâm đến than sinh học (biochar), một dạng carbon ổn định được tạo ra từ quá trình nhiệt phân các vật liệu hữu cơ như gỗ, củi, phụ phẩm nông lâm nghiệp trong điều kiện hạn chế oxy.
Than sinh học là chìa khóa giúp anh Tuấn cải tạo đất. Ảnh: Quang Linh.
Chế phẩm này có khả năng cải tạo đất, tăng cường hoạt động của vi sinh vật, nâng cao khả năng giữ nước, giữ dinh dưỡng và đồng thời góp phần lưu giữ carbon trong đất, qua đó giảm phát thải khí nhà kính.
Từ những kiến thức tích lũy được, anh bắt đầu tận dụng các phế phụ phẩm sẵn có tại địa phương như đầu mẩu gỗ, rơm, vỏ trấu, mùn cưa, củi, vỏ dừa, thậm chí cả một số phụ phẩm từ chăn nuôi để sản xuất than sinh học.
Điểm khác biệt lớn nhất giữa than sinh học và than thông thường nằm ở quá trình sản xuất. Nếu than củi thông thường được nung ở nhiệt độ tương đối thấp, khiến tinh dầu và nhựa gỗ chưa được loại bỏ hoàn toàn, thì than sinh học được tạo ra ở nhiệt độ cao hơn, từ khoảng 500-800 độ C. Quá trình này giúp phần lớn dầu và hợp chất dễ bay hơi được đốt cháy hoàn toàn, để lại cấu trúc carbon tinh khiết với vô số lỗ rỗng siêu nhỏ.
"Nhìn dưới kính hiển vi, than sinh học giống như một tòa chung cư với hàng triệu căn phòng nhỏ", anh Tuấn liên tưởng. Chính hệ thống lỗ rỗng này tạo nên diện tích bề mặt rất lớn, giúp than giữ lại nước, chất dinh dưỡng và tạo môi trường thuận lợi cho vi sinh vật cư trú.
Tuy nhiên, than sinh học không thể đưa trực tiếp vào đất ngay sau khi sản xuất. Sau khi carbon hóa, than phải trải qua giai đoạn "kích hoạt" bằng cách ngâm ủ cùng các nguồn dinh dưỡng hữu cơ như đạm cá và chế phẩm vi sinh.
Đây là bước quan trọng để các lỗ rỗng trong than được lấp đầy bởi dinh dưỡng và hệ vi sinh có lợi. Nếu bỏ qua công đoạn này, than có thể hấp thu ngược nitơ trong đất, khiến cây trồng bị thiếu dinh dưỡng trong giai đoạn đầu.
Anh Tuấn đào lò đốt hình tròn hoặc chữ nhật, có 1-2 cửa thông gió, 1 cửa đốt. Củi được xếp thành từng lớp, đốt theo phương pháp nhiệt phân liên tục.
Khi lớp củi bắt đầu chuyển trắng cho thấy quá trình oxy hóa đang diễn ra cần tiếp tục bổ sung lớp nguyên liệu mới để duy trì nhiệt độ bên trong. Khi mẻ than hoàn thành, nước lạnh được sử dụng để dập lửa và làm nguội nhanh. Quá trình này không chỉ ngăn than tiếp tục cháy thành tro mà còn làm gia tăng các vết nứt vi mô trên bề mặt, giúp tăng khả năng hấp phụ của than.
Sau đó, than được ngâm cùng đạm cá trong nhiều ngày rồi trộn vào đống phân hữu cơ trước khi đưa ra nương chè. Những hạt than đen nhỏ bé trở thành "ngôi nhà" của hệ vi sinh vật đất, hoạt động như một kho dự trữ nước và dinh dưỡng tự nhiên.
Sau vài năm áp dụng, những thay đổi bắt đầu hiện rõ trên các nương chè. Sản lượng tăng khoảng 15-20%, lượng phân bón sử dụng giảm khoảng 20%. Quan trọng hơn, đất trở nên tơi xốp hơn, độ pH được cải thiện, số lượng giun đất và các quần thể vi sinh vật có lợi xuất hiện ngày càng nhiều.
Theo anh Tuấn, đó là những tín hiệu đáng mừng nhất bởi chúng cho thấy môi trường đất đang từng bước được phục hồi.
Nhờ diện tích bề mặt lớn và cấu trúc xốp đặc biệt, than sinh học giúp hạn chế tình trạng rửa trôi các chất như kali, canxi hay đạm, vốn rất phổ biến ở những vùng đất đồi núi có lượng mưa lớn. Đồng thời, tính kiềm tự nhiên của than cũng góp phần giảm độ chua của đất, tạo điều kiện để cây chè hấp thụ dinh dưỡng hiệu quả hơn.
Nương chè trung du cổ ngày nay đã tơi xốp, giàu dinh dương và đặc biệt nhiều giun. Ảnh: Quang Linh.
Với anh Tuấn, than sinh học không đơn thuần là một loại vật liệu cải tạo đất. Đó là cách trả lại cho đất những gì đất đã mất đi sau nhiều năm canh tác, là bước đệm để những gốc chè trung du cổ tiếp tục bén rễ trên vùng núi xóm Phú Thọ và cũng là một cách để sản xuất nông nghiệp hài hòa hơn với tự nhiên.
Những thành công bước đầu giúp anh Tuấn nhận được nhiều sự tin tưởng từ người dân địa phương. Đến tháng 2/2022, chàng nông dân trẻ đã tiên phong thành lập Hợp tác xã Trà an toàn Phú Đô. Đến nay, HTX có 7 thành viên và 29 hộ liên kết với tổng diện tích canh tác lên tới 27,2ha, trong đó 4,88ha đạt tiêu chuẩn hữu cơ.
Nhưng điều khiến anh Tuấn tự hào nhất không nằm ở những con số về năng suất hay những giải thưởng đạt được. Đó là việc những thay đổi trên nương chè của gia đình đã dần lan tỏa sang các hộ dân xung quanh, tạo nên sự chuyển dịch trong tư duy sản xuất của cả cộng đồng.
Thông qua HTX Trà an toàn Phú Đô, anh cùng các thành viên kiên trì chia sẻ kinh nghiệm, hướng dẫn kỹ thuật và vận động người dân thay đổi từ khâu canh tác đến chế biến. Từ việc giảm dần phân bón hóa học, tăng sử dụng vật tư hữu cơ, cải tạo đất bằng than sinh học cho đến kiểm soát quy trình sản xuất, mọi thay đổi đều được thực hiện từng bước để người dân có thể nhìn thấy hiệu quả và tin tưởng làm theo.
Các sản phẩm chè được Hợp tác xã Trà an toàn Phú Đô hướng đến việc bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Ảnh: Quang Linh.
"Chỉ có sản xuất an toàn, hữu cơ mới mang lại sự phát triển bền vững, khẳng định được tên tuổi chè Phú Đô (nay thuộc địa bàn xã Vô Tranh) cũng như chè Thái Nguyên. Vì vậy, chúng tôi vừa làm vừa tuyên truyền, vận động các hộ cùng nhau thay đổi để xây dựng vùng nguyên liệu đủ lớn, đồng đều về chất lượng", anh Tuấn chia sẻ.
Từ sự nỗ lực của anh Tuấn cùng các thành viên HTX, vùng chè trung du cổ tại xóm Phú Thọ không chỉ được bảo tồn mà đang không ngừng được phát triển.
"Nói không chạy theo sản lượng thì cũng chưa hẳn đúng. Năng suất của giống chè trung du cổ do chúng tôi chăm sóc có năng xuất rất cao. Nhờ được cung cấp dinh dưỡng ổn định, lá chè dày nhưng không bị co hẹp về chiều rộng", anh Tuấn chia sẻ.
Sau khi thu hái, nhờ "những bàn tay vàng trong làng sao sấy và lên men", hương vị "tiền chát, hậu ngọt" của giống chè trung du cổ được khơi gợi và gói ghém trong từng tách trà khiến người thưởng thức không sao quên được.
Nhiều sản phẩm được chế biến từ giống chè trung du cổ của HTX Trà an toàn Phú Đô đã đạt thành tích cao tại các cuộc thi trong nước và quốc tế. Đặc biệt, sản phẩm Trà tôm nõn Hoàng Gia đã xuất sắc giành giải Đồng tại Cuộc thi Golden Leaf Awards 2024 do Hiệp hội Trà sư Australia tổ chức.
Hợp tác xã Trà an toàn Phú Đô vừa được vinh danh tại Lễ biểu dương Thành tựu Tác động vì Việt Nam số (Viet Nam I4 Impact Awards) năm 2026 với mô hình “Tiên phong ứng dụng than sinh học, khoa học - kỹ thuật vào sản xuất chè hữu cơ tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số”.




![Cô Tô ký sự: [Bài cuối] Người thuần hóa ong rừng, bán mật 1 triệu đồng/lít](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/tuongdt/2026/06/03/2717-dsc_0117-232132_80.jpg)
![Arabica Sơn La: [Bài 1] Từ vùng nguyên liệu đến hệ sinh thái ngành hàng](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/news/2026/07/02/ca-phe-8-nongnghiep-132338.jpg)









![5 thị trường, 1 chiến lược: [Bài 1] Tâm thế của nông nghiệp thời đại mới](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/chinq/2026/07/13/0200-local1781774249077xkbngpyyh0-105645_814.jpg)

![Arabica Sơn La: [Bài 2] Cần một hội đồng ngành hàng](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/nghienmx/2026/07/05/0330-arabica-son-la-bai-2-hoi-dong-nganh-hang-ca-phe-arabica-son-la-095602_202.jpg)