Khi rác nông nghiệp trở thành tài nguyên
Trên khu vườn rộng 2ha ở thôn Đăk Tân (xã Sa Bình, tỉnh Quảng Ngãi), ông Nguyễn Văn Sơn nhiều năm nay gắn bó với các loại cây trồng chủ lực như cà phê, sầu riêng và chôm chôm. Trước đây, cũng như nhiều hộ dân khác, ông phụ thuộc phần lớn vào phân bón hóa học. Việc sử dụng phân hóa học kéo dài khiến đất dần bạc màu, chi phí sản xuất tăng cao, trong khi sức khỏe người làm vườn cũng bị ảnh hưởng.
Phụ phẩm nông nghiệp như vỏ cà phê, rơm rạ được người dân tận dụng làm nguyên liệu sản xuất phân hữu cơ. Ảnh: V.H.
Dù nhận thấy những bất cập đó, ông Sơn cho biết bản thân từng không biết phải bắt đầu thay đổi từ đâu. Bước ngoặt đến vào năm 2023 khi ông tham gia lớp tập huấn kỹ thuật canh tác và sử dụng phân bón hữu cơ do địa phương tổ chức. Tại đây, ông được hướng dẫn cách ứng dụng công nghệ vi sinh để xử lý phụ phẩm nông nghiệp thành phân bón hữu cơ phục vụ sản xuất.
Sau lớp tập huấn, ông bắt tay thử nghiệm ngay trên diện tích cây trồng của gia đình. Theo ông Sơn, khu vực miền núi có rất nhiều phụ phẩm như vỏ trấu, vỏ cà phê, rơm rạ nhưng lâu nay chưa được tận dụng hiệu quả. Ông thu gom các nguyên liệu này, phơi khô, nghiền thành bột rồi phối trộn với phân động vật và men sinh học để tạo thành phân hữu cơ.
Để tăng hàm lượng dinh dưỡng, ông bổ sung thêm các loại đạm hữu cơ như đạm cá, đạm đậu nành và mật rỉ đường. Công thức ông áp dụng gồm 2 tấn bột phụ phẩm nông nghiệp trộn với 5 lít đạm cá, 10 lít nước đậu nành, 4kg nấm Trichoderma, 5 lít rỉ mật cùng một số loại đạm khác.
Ông Nguyễn Văn Sơn hài lòng với vườn cà phê sau thời gian chuyển sang sử dụng phân hữu cơ tự chế. Ảnh: V.H.
Trong quá trình ủ, khoảng nửa tháng ông lại đảo trộn và bổ sung nước để duy trì độ ẩm từ 70 - 80%. Sau khoảng 75 ngày, phân đạt chất lượng để đưa vào sử dụng.
“Nếu mua hoàn toàn phân bón bên ngoài, mỗi năm tôi phải chi hơn 100 triệu đồng. Tự ủ phân giúp giảm khoảng 50% chi phí”, ông Sơn chia sẻ.
Không chỉ giảm chi phí, ông còn ứng dụng hệ thống tưới tiết kiệm để đưa phân hữu cơ dạng lỏng trực tiếp đến rễ, thân và lá cây, hạn chế thất thoát dinh dưỡng trong quá trình canh tác.
Sau thời gian áp dụng, ông nhận thấy cây cà phê, sầu riêng và chôm chôm phát triển tốt hơn trước. Lá dày, xanh hơn, năng suất cũng cải thiện rõ rệt. Quan trọng hơn, theo ông Sơn, cách làm này đã thay đổi tư duy sản xuất của gia đình từ phụ thuộc vào phân hóa học sang tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có để tạo ra phân bón hữu cơ an toàn, thân thiện với môi trường.
Cũng lựa chọn hướng đi tương tự, ông Nguyễn Duy Thiếm (56 tuổi) ở thôn Đoàn Kết, xã Đăk Ui đã xây dựng mô hình sản xuất tuần hoàn từ những phụ phẩm phát sinh trong nông nghiệp.
Từ vỏ cà phê, xác cá và phân chuồng, ông Thiếm chế biến thành phân hữu cơ bón cho cây trồng của gia đình. Mô hình không chỉ giúp tiết kiệm đáng kể chi phí đầu tư mà còn mang lại nguồn thu hơn 800 triệu đồng mỗi năm.
Vườn cây của người dân phát triển xanh tốt nhờ chuyển đổi sang hướng canh tác hữu cơ. Ảnh: V.H.
Ông Thiếm cho biết, từ năm 2000, ông được Trung tâm Sản xuất và cung cấp giống cây của Viện Eakmat Tây Nguyên hướng dẫn kỹ thuật chế biến phân hữu cơ từ phụ phẩm nông nghiệp. Từ đó đến nay, ông kiên trì áp dụng và dần hoàn thiện quy trình phù hợp với điều kiện địa phương.
Những ngày đầu thực hiện, ông gặp không ít thất bại. Có thời điểm nhiều mẻ đạm cá bị hỏng, phát sinh mùi nồng do chưa cân đối được tỷ lệ men vi sinh, mật đường cũng như thời gian ủ. Tuy nhiên, sau nhiều lần điều chỉnh, ông dần tích lũy được kinh nghiệm.
“Lúc mới làm cũng thất bại vài lần. Nhưng thấy cây phát triển tốt nên tôi tiếp tục làm, dần dần rút ra kinh nghiệm. Trước kia vỏ cà phê sau thu hoạch chất đống, còn chất thải chăn nuôi nếu không xử lý dễ gây ô nhiễm. Giờ tận dụng để ủ phân vừa sạch môi trường, vừa giảm được nhiều chi phí”, ông Thiếm nói.
Hướng đến canh tác bền vững
Không riêng các hộ trồng cà phê, nhiều nông dân phát triển cây ăn quả tại Quảng Ngãi cũng đang chuyển sang sử dụng phân hữu cơ tự chế biến.
Gia đình chị Lê Hồng Thanh (làng Chờ, xã Ya Ly) hiện có 2ha trồng sầu riêng, ổi và chuối. Trước đây, chi phí mua các loại phân hóa học như NPK, đạm, lân cho vườn cây luôn ở mức cao.
Năm 2021, sau khi tham gia lớp tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật do Hội Nông dân huyện Sa Thầy (cũ) tổ chức, chị bắt đầu nghiên cứu cách chế biến phân cá để thay thế dần phân hóa học.
Nguồn nguyên liệu chủ yếu được gia đình tận dụng từ cá tạp đánh bắt ở lòng hồ thủy điện Ya Ly và thu mua thêm từ người dân trong làng. Theo chị Thanh, phân cá giúp cây xanh tốt quanh năm, ít sâu bệnh và cho trái đồng đều hơn.
Canh tác xanh đang mở ra hướng phát triển bền vững cho nhiều hộ nông dân vùng miền núi Quảng Ngãi. Ảnh: V.H.
“Với 2ha cây ăn quả, mỗi vụ tưới phân cá 3 lần, so với dùng phân hóa học gia đình tiết kiệm được gần 20 triệu đồng mà cây vẫn phát triển tốt”, chị Thanh cho biết.
Theo chị, trước đây vườn cây chỉ đạt sản lượng khoảng 5 - 6 tấn quả/năm. Sau khi chuyển sang sử dụng phân cá, sản lượng tăng ổn định lên 7 - 8 tấn mỗi năm. Với giá bán hiện nay, gia đình có lãi hàng trăm triệu đồng/năm.
Tận dụng phụ phẩm nông nghiệp để sản xuất phân hữu cơ là hướng đi phù hợp trong bối cảnh ngành nông nghiệp đang thúc đẩy phát triển xanh và kinh tế tuần hoàn.
Từ từ những nguyên liệu tưởng chừng bỏ đi, nhiều nông dân trên Quảng Ngãi đã chủ động tạo ra nguồn phân bón phục vụ sản xuất, vừa giảm áp lực chi phí, vừa hạn chế ô nhiễm môi trường. Quan trọng hơn, cách làm này đang từng bước thay đổi phương thức sản xuất truyền thống, hướng người dân đến mô hình canh tác bền vững hơn trong tương lai.
























![Nhìn thẳng vào ‘sức khỏe’ nhà khoa học: [Bài 7] Chờ cơ chế đủ rộng](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/anhntk/2026/06/23/1119-dsc00323-nongnghiep-081103.jpeg)


![TP.HCM hướng biển đúng luật: [Bài 1] ‘Quả ngọt’ từ ly cà phê sáng](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/192w/files/news/2026/07/13/dsc07074-nongnghiep-121806.jpg)

