Những trang sách về Bác Hồ luôn có vị trí đặc biệt trong lòng công chúng Việt Nam. Ngày 28/1/1941, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vượt qua cột mốc 108, về đến Pác Bó (nay là xã Trường Hà, tỉnh Cao Bằng) đánh dấu bước chân đầu tiên của Người trên mảnh đất quê hương sau 30 năm bôn ba đi tìm đường cứu nước. Nhân dịp này, những trang sách về những ngày Bác Hồ ở Pác Bó, đã được ấn hành thành một bộ sách công phu.
Cuốn sách "Hồ Chí Minh - Một con người và một dân tộc”. Ảnh: KĐ.
Đọc những trang sách “Kể chuyện Bác Hồ” hoặc “Hồ Chí Minh - Một con người và một dân tộc”, độc giả hiểu rõ hơn về bối cảnh xã hội trong nước và quốc tế, dẫn tới quyết định của Bác “về nước để cùng tham gia với các đồng chí”, khi chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn quyết liệt, chủ nghĩa phát xít dần suy yếu, phong trào quần chúng trong nước đang dâng cao…
Cuốn sách "Kể chuyện Bác Hồ". Ảnh: KĐ.
Trong cuốn “Theo dấu chân Người”, tác giả Trình Quang Phú đã kể lại chi tiết hành trình Bác trở về Tổ quốc qua câu chuyện “Trên đường về biên giới” và “Mùa xuân Bác về Tổ quốc”. Bác đánh giá tình hình: “Trong dịp Tết, bọn mật thám và lính lệ cũng lo ăn Tết, việc tuần tra canh gác sẽ lơ là, mọi người đi chúc Tết đông vui, anh em trở về trong lúc này sẽ thuận lợi. Tết Tân Tị năm 1941 đến trên đất Quảng Tây, đồng bào Nặm Quang trang trí nhà cửa, treo lồng đèn đỏ và các chữ đỏ đón năm mới cùng với hoa tết, cũng vạn thọ, cúc vàng như ở Việt Nam, làm cho nỗi nôn nao giục giã Bác về nước càng tăng lên.
Tối 29, Bác dẫn cả nhóm thanh niên đi xem địa phương tổ chức kịch Choang ngoài trời. Kịch Choang là một loại kịch dân gian được mọi người yêu thích, dân làng, già trẻ, trai gái nô nức kéo nhau đi xem… Sáng mồng một Tết, Bác cùng anh em đi chúc Tết theo phong tục của người Choang. Lương y Đặng Văn Cáp chuẩn bị những đồng bạc tròn bọc trong giấy đỏ để Bác mừng người cao tuổi và kẹo lì xì cho các cháu bé. Sau đó, ai ở nhà nào về chúc Tết nhà ấy và dự bữa cơm đầu năm… Sáng mồng hai Tết, trong trang phục người Nùng, quần áo màu chàm, khuy cài bằng vải, khoác áo lông chồn, chào tạm biệt bà con Nặm Quang, Bác cùng cả nhóm lên đường. Sáng sớm, trời rét, sương mù phủ trắng.”
Công cuộc chuẩn bị cho chuyến trở về được tính toán vô cùng kĩ lưỡng từng chi tiết để tránh tai mắt của giặc rình rập khắp nơi. Chặng đường đi thật nhiều gian lao: “sương mù dày đặc như đi trong mây, cách nhau một thước không nhìn thấy nhau”, “lên dốc, xuống dốc, lại lên dốc. Cả đoàn phải vượt qua sườn núi đá lởm chởm.” Và rồi sau bao khó khăn, “Một cột mốc biên giới bằng đá hiện ra. Bác bước đến, dừng lại, xúc động đặt tay lên bia đá, cúi nhìn và reo lên: - Cột mốc 108. Nói xong, Bác quỳ xuống, đặt một tay xuống nền cỏ xanh trên đất, tay phải đặt lên cột mốc, im lặng mấy giây, như muốn nói với giang sơn đất trời, Bác đã về đến Tổ quốc Việt Nam yêu dấu”.
Cuốn sách "Theo chân Bác". Ảnh: KĐ.
Khoảnh khắc Bác đặt chân lên mảnh đất quê hương đã được nhà thơ Tố Hữu miêu tả trong trường ca “Theo chân Bác” vô cùng xúc động: “Ôi sáng xuân nay, Xuân bốn mốt/ Trắng rừng biên giới nở hoa mơ/ Bác về… Im lặng. Con chim hót/ Thánh thót bờ lau, vui ngẩn ngơ/ Bác đã về đây, Tổ quốc ơi/ Nhớ thương, hòn đất ấm hơi Người/ Ba mươi năm ấy, chân không nghỉ/ Mà đến bây giờ mới tới nơi”. Trong cuốn “Theo dấu chân Người”, kể lại những tháng ngày của Bác ở Pác Bó một cách ngắn gọn, súc tích: “Trong những ngày ở hang Pác Bó, sáng nào Bác cũng dậy rất sớm và gọi mọi người cùng dậy. Bác tập thể dục rất đều, tập xong lạnh mấy cũng đi tắm suối, rồi bắt đầu làm việc. Khi Bác khai hội, khi Bác nghiên cứu, khi Bác xuống làng nói chuyện với đồng bào, có khi Bác đi lấy củi. Bữa cơm của Bác chỉ có chút thịt muối hoặc con cá con vừa bắt được dưới suối. Trời tối, trong hang rất lạnh, phải đốt lửa sưởi suốt đêm. Không có đèn, nên buổi tối ít khi làm việc. Anh em thường ngồi quây quanh đống lửa nghe Bác nói chuyện. Một lần, Bác nhắc lại những cuộc chiến tranh lớn, những cuộc cách mạng từ trước tới nay, rồi Bác phỏng đoán độ bốn, năm năm nữa, chiến tranh sẽ tới bước quyết định, và lúc đó là một cơ hội rất tốt cho cách mạng ta”.
Cuốn sách "Theo dấu chân Người". Ảnh: KĐ.
Trong thời gian hoạt động bí mật tại núi rừng Pác Bó, Bác Hồ đã đào tạo, giác ngộ nhiều cán bộ, quần chúng tham gia hoạt động cách mạng. Trong số đó, có bà Nông Thị Trưng, một phụ nữ dân tộc Tày. Sinh năm 1920, tham gia cách mạng từ khi còn rất trẻ, trong những năm 1941-1945, bà Nông Thị Trưng là một trong những thanh niên được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đào tạo tại căn cứ Pác Bó, bà dần trưởng thành, vượt qua những chông gai trong cuộc sống và công việc, trở thành nữ cán bộ gương mẫu, nhiệt huyết. Giữa núi rừng Pác Bó, cùng một số đồng chí thân cận, bà đã được Ông Ké - Chú Thu ân cần dạy bảo và bồi dưỡng văn hóa, chính trị, đạo đức, phong cách sống của người cộng sản. Những kỉ niệm đó, được bà kể lại trong cuốn hồi kí “Những ngày sống gần Bác”.
Không chỉ dạy kiến thức, giác ngộ cách mạng, Bác còn dạy chi tiết về cách thức, phương pháp làm việc, ý thức học hỏi tìm hiểu phong tục tập quán địa phương để có thể hòa mình, thuyết phục được quần chúng.
Bà Nông Thị Trưng chia sẻ trong cuốn hồi kí: “Chú dạy về kinh đô, dân số các nước, các lãnh tụ đề xướng ra chủ nghĩa cộng sản là Mác và Ăng-ghen… Chú còn giảng rất kĩ, rất cụ thể nhiệm vụ của đoàn thể Việt Minh và Đảng Cộng sản Đông Dương cho tôi. Chú cũng giảng cả vai trò lãnh đạo lịch sử của giai cấp công nhân thế giới, vai trò đội quân chủ lực của giai cấp là nông dân và ý nghĩa khối liên minh công nông. Đặc biệt Chú giảng cho tôi rất nhiều, rất kĩ về vấn đề giải phóng phụ nữ… Suốt thời gian được sống gần Chú Thu, mỗi ngày tôi càng nhận thấy rõ hơn tác phong, nếp sống giản dị của Chú. Bao giờ cũng thế, Chú chỉ mặc bộ quần áo Nùng bằng vải chàm, ống tay rộng, trông thật gọn gàng giản dị, hòa hợp với bà con địa phương Pác Bó”.
Cuốn sách "Những ngày sống gần Bác". Ảnh: KĐ.
Trong cuốn sách, tác giả Nông Thị Trưng cũng chia sẻ một kỉ niệm rất thú vị về nguồn gốc bốn câu thơ: “Vở này ta tặng cháu yêu ta/ Tỏ chút lòng yêu cháu gọi là/ Mong cháu ra công mà học tập/ Mai sau cháu giúp nước non nhà”. Rất nhiều người có thể đã thuộc lòng câu thơ, nhưng có lẽ ít ai biết rằng, đây chính là bốn câu thơ Bác viết tặng bà Nông Thị Trưng, như bà chia sẻ: “Chú Thu tặng tôi quyển “Binh pháp Tôn Tử”. Những ngày ở trong nhà tù của Tưởng, Chú đã dịch “Binh pháp Tôn Tử”, khi về nước Chú cho tôi quyển vở quý báu đó làm quà. Ngoài bìa quyển vở đó Chú ghi bốn câu thơ…”
Những trang sách chứa đựng những câu chuyện gần gũi về một vĩ nhân, có giá trị đánh thức những tình cảm cao đẹp và thiêng liêng trong lòng mỗi người Việt Nam.












![Tái sinh nghề truyền thống: [Bài cuối] Tương lai làng nghề kỳ vọng ở thế hệ trẻ](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/content/2026/07/06/tai-sinh-nghe-truyen-thong-bai-cuoituong-lai-lang-nghe-ky-vong-o-the-he-tre-192200_246-221604.jpeg)










