Được ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia vào đầu năm 2026, nghề dệt thổ cẩm của người Giẻ - Triêng ở Kon Tum một lần nữa được khẳng định giá trị tâm linh và mỹ thuật tộc người. Nhưng phía sau ánh hào quang của danh hiệu, câu hỏi về sự tồn sinh của những khung cửi cổ truyền vẫn nhức nhối khi lớp trẻ dần thưa vắng, và những "bản văn khắc bằng sợi" này vẫn đang chật vật tự tìm lối đi trong nền kinh tế thị trường.
Những hoa văn kể chuyện ký ức đại ngàn
Vùng đất Đăk Môn đón chúng tôi bằng thanh âm lách cách đều đặn, nhịp nhàng phát ra từ khung cửi gỗ. Trong những nếp nhà sàn của người Giẻ - Triêng ở thôn Ri Mẹt (xã Đăk Môn, tỉnh Quảng Ngãi), nghề dệt thổ cẩm chưa bao giờ đơn thuần là một công việc mưu sinh, sinh kế. Đối với các nghệ nhân, đặc biệt là những người có tuổi, mỗi tấm thổ cẩm là một chương sử ký thầm lặng, một "văn bản văn hóa" không chữ viết nhưng chứa đựng trọn vẹn thế giới quan, nhân sinh quan của một tộc người.
Đầu năm 2026, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã đưa Nghề dệt của người Giẻ - Triêng vào Danh mục quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể. Ảnh: Võ Hà.
Lật giở ký ức, các già làng kể rằng, thuở xưa, hành trình khai sinh một tấm thổ cẩm là chuỗi ngày dài hòa quyện giữa con người và thiên nhiên. Người Giẻ - Triêng hái quả cây Kpải, rồi qua hàng loạt công đoạn thủ công tỉ mẩn: phơi khô, ngâm tẩm, se sợi và nhuộm màu bằng thứ nước chiết từ lá cây, rễ rừng. Ngày nay, thời gian và sự khắc nghiệt của tự nhiên đã khiến cây Kpải dần vắng bóng trên các nương rẫy. Đồng bào chuyển sang dùng sợi công nghiệp để chủ động nguyên liệu và bớt phần nhọc nhằn.
Sự chuyển đổi ấy là tất yếu, nhưng cũng để lại một khoảng lặng đầy tiếc nuối: chất liệu mới dẫu bền màu nhưng không còn giữ được cái hồn cốt mềm mại, thoáng mát và cái vẻ đẹp mộc mạc, nguyên bản từng thấm đượm phong sương đại ngàn.
Đặc trưng mỹ thuật thổ cẩm Giẻ - Triêng vùng Đăk Môn nằm ở sắc đen sâu thẳm của nền vải - biểu tượng của đất mẹ và rừng già. Trên khoảng không trầm mặc ấy, các gam màu vàng, trắng, xanh bật lên đầy sức sống qua hệ thống họa tiết độc đáo.
Dệt thổ cẩm đã gắn bó với người Giẻ - Triêng từ bao đời nay. Ảnh: Dư Toán (TTXVN).
Trí tuệ dân gian của người Giẻ - Triêng định vị giới tính một cách tài tình qua hoa văn: họa tiết hạt thóc thanh mảnh, dịu dàng dành riêng cho trang phục của nữ giới; trong khi họa tiết hạt ngô vững chãi, khỏe khoắn lại tôn vinh phẩm chất của người đàn ông. Điều kỳ diệu là, hàng trăm đường dệt phức tạp ấy hoàn toàn không có sách vở, sơ đồ hay khuôn mẫu nào dẫn đường. Tất cả được lưu giữ trọn vẹn bằng trí nhớ, bằng sự mẫn cảm của đôi tay và trực giác thẩm mỹ trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Đôi tay vẫn thoăn thoắt đưa thoi, bà Y Thương (sinh năm 1972), trú tại thôn Ri Mẹt, người đã gắn bó với khung dệt từ năm 14 tuổi, trầm ngâm chia sẻ: "Một tấm thổ cẩm nếu ngồi dệt ròng rã, không ngơi tay thì cũng mất ba đến bốn ngày mới xong; còn nếu tranh thủ sau những buổi lên nương, lên rẫy thì có khi kéo dài cả hai tuần lễ". Hơn bốn mươi năm bầu bạn với sợi chỉ, điều bà nâng niu nhất không phải là sự thục luyện của đôi tay, mà là việc làm sao giữ cho bằng được nhịp điệu và cái thần của những hoa văn cổ mà ông bà xưa để lại.
Khoảng trống thế hệ
Thế nhưng, khi bước ra khỏi không gian văn hóa truyền thống để đối mặt với những khắc nghiệt của cơ chế thị trường, giá trị kinh tế của nghề dệt đang có xu hướng bị thu hẹp đáng báo động. Nhớ về một thời vàng son, các nghệ nhân không khỏi bùi ngùi: "Trước đây, cứ khoảng 10 tấm thổ cẩm có diện tích 1m x 2,5m sẽ đổi được một con bò, nhưng hiện nay chỉ bán được khoảng 600.000 đồng; những tấm lớn, hoa văn tinh xảo nhất cũng chỉ chạm ngưỡng trên dưới 1 triệu đồng. Trong khi đó, phải mất 3 - 4 ngày ngồi thật chăm chỉ mới dệt xong một tấm thổ cẩm, còn nếu ban ngày đi làm nương rẫy, ban đêm tranh thủ dệt thì có khi phải 2 tuần mới xong, nếu làm tấm lớn thì thời gian lâu hơn rất nhiều. Giá và mức thu nhập hoàn toàn không tương xứng với thời gian, công sức và tâm huyết mà người thợ dệt đổ xuống".
Mỗi hoa văn trên thổ cẩm Giẻ Triêng đều mang ý nghĩa riêng. Ảnh: Võ Hà.
Các nhà nghiên cứu văn hóa cho rằng, văn hóa cổ truyền của các tộc người thiểu số vốn được xây dựng trên nền tảng kinh tế tự cấp tự túc, nơi sản phẩm thủ công mang giá trị tinh thần và trao đổi trực tiếp. Khi chuyển dịch sang nền kinh tế tiền tệ, nếu chúng ta không định giá lại giá trị di sản dựa trên tính độc bản và hàm lượng lao động văn hóa, sản phẩm thổ cẩm sẽ bị cào bằng với hàng công nghiệp đại trà. Đó là lý do khiến nghề dệt rơi vào thế yếu ngay trên sân nhà.
Hệ lụy trực tiếp từ bài toán kinh tế ấy chính là sự đứt gãy thế hệ. Nỗi trăn trở lớn nhất của bà Y Thương không phải là cái nghèo, mà là sự thưa vắng bóng dáng người trẻ bên khung cửi. Lớp truyền nghề do bà đứng lớp trước đây có gần 20 học viên hăm hở tham gia, nhưng theo thời gian, sự khắc nghiệt của cuộc sống cơm áo gạo tiền đã rây lọc dần, chỉ còn lại vài người kiên trì bám trụ. "Tôi tự hào lắm khi nghề dệt được vinh danh. Nhưng giữ nghề thế nào nếu thu nhập không đủ trang trải cho cuộc sống, mà cứ thế thì lớp trẻ quay lưng, không còn ai mặn mà nối nghiệp", bà Thương đau đáu.
Tìm lối đi song hành giữa bảo tồn và sinh kế
Rời Đăk Môn, chúng tôi tìm đến làng Đăk Răng (xã Dục Nông) - một địa chỉ khác trong bản đồ bảo tồn di sản Giẻ - Triêng. Được công nhận là làng du lịch cộng đồng từ cuối năm 2023, Đăk Răng hiện lên như một bảo tàng sống, nơi lưu giữ tổng hòa các giá trị bản địa từ kiến trúc, lễ hội, nhạc cụ cho đến các nghề thủ công.
Tại đây, chị Y Loan - một người con của làng học dệt từ năm 13 tuổi và đã làm chủ được những kỹ thuật phức tạp nhất ở tuổi đôi mươi cho biết, hiện tại chị cũng chỉ dệt khi có khách du lịch đặt trước hoặc gia đình có việc hệ trọng như lễ hội, cưới xin. Chị bày tỏ: Thổ cẩm là máu thịt, là bản sắc không thể thiếu trong đời sống tâm linh của người Giẻ - Triêng. Nhưng nếu cái nghề không nuôi nổi cái bụng, không tạo ra nguồn thu nhập ổn định để trang trải cuộc sống hằng ngày thì khó kêu gọi người trẻ giữ nghề.
Thổ cẩm vẫn rất cần thiết trong đời sống người Giẻ - Triêng, nhất là trong các dịp lễ lớn, cưới hỏi. Ảnh: Võ Hà.
Nhìn thấu những nút thắt ấy, chính quyền các cấp tại địa phương đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mang tính chiến lược hơn. Ông Huỳnh Ngọc Ly, Phó Chủ tịch UBND xã Đăk Môn cho biết, toàn xã hiện có 16 trên tổng số 18 thôn có đồng bào Giẻ - Triêng sinh sống. Địa phương hiện đang duy trì ba mô hình dệt thổ cẩm cốt lõi tại các thôn Ri Mẹt, Prong Mẹt và Đăk Po với khoảng 50 nghệ nhân tích cực tham gia.
Tuy nhiên, ông Ly cũng thẳng thắn nhìn nhận những hạn chế nội tại: Các nhóm dệt hiện nay hoạt động mang tính tự nguyện, quy mô manh mún, nhỏ lẻ và hoàn toàn khuyết thiếu một chuỗi sản xuất - tiêu thụ mang tính bền vững. Để giải bài toán này, định hướng của địa phương trong thời gian tới là thúc đẩy thành lập các tổ hợp tác, tổ liên kết sản xuất; đồng thời ứng dụng công nghệ số để quảng bá sản phẩm, đưa thổ cẩm Giẻ - Triêng tham gia các sàn thương mại điện tử, các hội chợ, triển lãm quy mô lớn để mở rộng thị trường tiêu thụ. "Chúng tôi sẽ lồng ghép các Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số để hỗ trợ nguồn lực sản xuất, đồng thời tiếp tục mở rộng các lớp truyền dạy thiết thực cho thế hệ trẻ", ông Ly nhấn mạnh.
Trong khi đó, tại xã Dục Nông, những đốm lửa nghề vẫn được nhen nhóm đều đặn qua các lớp dạy dệt vào tối Chủ nhật hằng tuần tại nhà Rông. Theo ông U Chí Nam, Trưởng phòng Văn hóa - Xã hội xã Dục Nông, bên cạnh việc khơi dậy lòng tự hào dân tộc trong đồng bào, cốt lõi của công tác bảo tồn là tìm kiếm sự bắt tay lâu dài với các hợp tác xã, doanh nghiệp du lịch để bao tiêu sản phẩm, biến thổ cẩm thành món quà lưu niệm có giá trị kinh tế cao, tạo nguồn thun ổn định cho đồng bào, đặc biệt là các nghệ nhân.











![Tái sinh nghề truyền thống: [Bài cuối] Tương lai làng nghề kỳ vọng ở thế hệ trẻ](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/content/2026/07/06/tai-sinh-nghe-truyen-thong-bai-cuoituong-lai-lang-nghe-ky-vong-o-the-he-tre-192200_246-221604.jpeg)










