Đến thăm những cánh đồng lúa - rươi ở xã Hồng Phong vào những ngày tháng 5, không khó để bắt gặp từng đàn rạm bò lên bờ, lặng lẽ phơi mình dưới nắng. Với người dân nơi đây, đó là tín hiệu đáng mừng. Bởi ở nhiều vùng sản xuất lúa thâm canh, rạm, cá đồng hay các loài thủy sinh quen thuộc đã dần biến mất từ lâu. Còn ở xã Hồng Phong, chúng đang trở lại.
Sự trở lại ấy không đơn thuần là thêm một nguồn lợi tự nhiên mà là chỉ dấu sinh học cho thấy đồng ruộng đang hồi phục, đất và nước đang dần sạch hơn và cách con người canh tác cũng đã đổi mới. Một cánh đồng, vì thế bắt đầu được nhìn nhận bằng nhiều giá trị hơn.
Thay giống, đổi cách làm
Người dân xã Hồng Phong vẫn nhớ trước đây khi đồng ruộng ven sông chủ yếu sống dựa vào “lộc trời”. Lúa vẫn được trồng nhưng năng suất thấp. Đất nhiễm mặn, sâu bệnh nhiều khiến người dân buộc phải phụ thuộc vào phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật nếu muốn giữ năng suất.
Chị Nguyễn Thị Nhung thăm đồng lúa - rươi tại xã Hồng Phong, phấn khởi trước vụ lúa phát triển tốt. Ảnh: Hà Trang.
“Ngày trước không phun thuốc thì coi như không có thóc. Vì vậy nhiều nhà trồng lúa chủ yếu để lấy rạ nuôi rươi chứ thu hoạch lúa không đáng là bao”, chị Nguyễn Thị Nhung nhớ lại. Chính vì thế, con rươi từng là nguồn thu chính của nhiều hộ dân nơi đây.
Mỗi mùa nước lên, rươi theo thủy triều vào ruộng, mang lại giá trị kinh tế cao. Nhưng nguồn thu ấy cũng đầy may rủi, được mùa thì vui, mất mùa coi như trắng tay. Cánh đồng khi ấy gần như phụ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên, thiếu sự ổn định để người dân yên tâm gắn bó lâu dài.
Bước ngoặt bắt đầu từ khoảng năm 2014 khi giống lúa ST25 được đưa về trồng thử nghiệm trên vùng đất ven sông này. Với khả năng chịu mặn tốt hơn, ít sâu bệnh hơn, giống lúa này nhanh chóng cho thấy sự phù hợp với điều kiện tự nhiên tại địa phương, đồng thời mở ra khả năng giảm đáng kể lượng hóa chất sử dụng trên đồng ruộng.
“Những năm đầu doanh nghiệp về hướng dẫn trồng giống mới, chúng tôi cũng lo lắm, vì chưa quen nên ai cũng sợ năng suất không đạt. Nhưng làm thử vài vụ, thấy hiệu quả dần bà con mới yên tâm. Đến giờ thì phấn khởi rồi, vừa có sản phẩm chất lượng, vừa giữ được đất đai để sản xuất lâu dài”, chị Nhung kể.
Những bông lúa đang vào giai đoạn chắc hạt trên cánh đồng lúa - rươi ở xã Hồng Phong. Ảnh: Hà Trang.
Điều thay đổi ở Hồng Phong không chỉ là giống lúa. Đó là sự thay đổi trong tư duy sản xuất. Từ chỗ phải đánh đổi môi trường để giữ năng suất, người dân bắt đầu nhận ra nếu chọn đúng giống, đúng điều kiện tự nhiên, họ hoàn toàn có thể giảm can thiệp bằng phân, thuốc hóa học mà vẫn đảm bảo hiệu quả kinh tế.
“Trồng lúa ST25 đỡ sâu bệnh hơn, không còn phụ thuộc nhiều vào thuốc BVTV mà năng suất vẫn ổn. Từ đó bà con mạnh dạn đi theo hướng canh tác sạch”, anh Trần Văn Hiếu chia sẻ.
Gia đình anh Hiếu hiện canh tác khoảng 4 mẫu ruộng, mỗi vụ đông xuân thu từ 6 - 7 tấn thóc, đến mùa rươi sản lượng đạt vài tạ. Chưa kể nguồn thu từ cá, rạm và các loài thủy sản tự nhiên trong đồng, mỗi năm cũng mang về cho gia đình anh khoảng 100 - 150 triệu đồng. Cùng một thửa ruộng, nhưng giờ đây không còn chỉ cho một mùa thu hoạch mà trở thành nguồn sinh kế đa giá trị.
Khi hóa chất rút dần khỏi đồng ruộng, hệ sinh thái cũng từng bước hồi sinh. Rạm xuất hiện nhiều hơn, cá đồng nhiều hơn, những sinh vật nhỏ bé ấy như đang kể một câu chuyện khác về sức sống của cánh đồng.
Anh Trần Văn Hiếu chia sẻ về hiệu quả kinh tế từ mô hình lúa - rươi - thủy sản trên vùng đất ven sông. Ảnh: Hà Trang
Liên kết và mở rộng
Sinh ra và lớn lên giữa những cánh đồng rươi ven sông, ông Trần Quốc Toản hiểu rõ hơn ai hết giá trị của vùng đất này. Ông cũng hiểu rằng nếu chỉ trông vào con rươi theo mùa, sinh kế sẽ khó bền vững, nhưng nếu quay lại lối canh tác phụ thuộc hóa chất, hệ sinh thái đồng ruộng sẽ tiếp tục bị bào mòn.
“Muốn đi đường dài phải giữ được môi trường cho đồng ruộng. Đất sạch, nước sạch thì cây lúa, con rươi và các loài thủy sản mới cùng tồn tại được”, ông Toản chia sẻ. Từ suy nghĩ ấy, ông bắt đầu liên kết với người dân, vận động chuyển đổi giống lúa, thay đổi phương thức sản xuất và từng bước hình thành chuỗi tiêu thụ.
Điều ông hướng tới không chỉ là thu mua nông sản mà còn xây dựng vùng nguyên liệu đủ lớn, đủ ổn định, đủ minh bạch để kiểm soát chất lượng ngay từ đồng ruộng.
“Chúng tôi muốn làm bài bản hơn, không chỉ cho thị trường trong nước mà còn hướng tới những tiêu chuẩn cao hơn như Châu Âu hay Mỹ. Muốn vậy phải quản lý được cả vùng trồng, từ đầu vào đến đầu ra”, ông Toản nói. Những liên kết ban đầu ấy đang dần tạo ra giá trị mới. Gạo sinh thái vùng rươi đã từng bước khẳng định thương hiệu, trong đó có sản phẩm đạt chứng nhận OCOP 5 sao.
Ông Trần Quốc Toản - Giám đốc Công ty TNHH Toản Xuân giới thiệu sản phẩm gạo sinh thái ruộng rươi. Ảnh: Hà Trang.
Ở quy mô lớn hơn, UBND tỉnh Ninh Bình đã chấp thuận chủ trương đầu tư dự án xây dựng vùng lúa hữu cơ sinh thái tập trung tại xã Giao Minh với quy mô khoảng 39,3ha, tổng vốn gần 8,9 tỷ đồng. Mục tiêu nhằm phát triển mô hình canh tác lúa kết hợp thủy sản theo hướng sinh thái. Dự án được giao cho Công ty TNHH Toản Xuân triển khai. Đây là doanh nghiệp đã có kinh nghiệm phát triển sản phẩm gạo sinh thái ruộng rươi tại địa phương.
Theo kế hoạch, vùng sản xuất này dự kiến đạt khoảng 250 tấn lúa mỗi năm (tương đương 150 tấn gạo) và khoảng 40 tấn rươi. Việc không xây dựng công trình mới mà tập trung cải tạo hạ tầng hiện có cho thấy định hướng tận dụng nền tảng sẵn có, gắn với điều kiện tự nhiên của địa phương.
Việc hình thành vùng sản xuất tập trung mở ra cơ hội để sản phẩm gạo sinh thái, gạo ruộng rươi tiếp cận những phân khúc cao hơn, đặc biệt là các thị trường yêu cầu khắt khe về tiêu chuẩn môi trường và truy xuất nguồn gốc. Đồng thời, mô hình sản xuất gắn với hệ sinh thái tự nhiên cũng tạo ra lợi thế khác biệt - yếu tố ngày càng quan trọng trong cạnh tranh nông sản.






























