Hội nghị nhằm phổ biến các nội dung kỹ thuật và quy định của Nghị định thư; hướng dẫn quy trình xây dựng vùng trồng, cơ sở đóng gói đáp ứng yêu cầu của nước nhập khẩu; hướng dẫn kiểm soát các đối tượng kiểm dịch thực vật; thực hiện ghi chép, lưu giữ hồ sơ theo quy định của phía Trung Quốc.
Trên cơ sở đó, thúc đẩy xuất khẩu chính ngạch đối với hai mặt hàng trái cây có lợi thế và tiềm năng của Việt Nam.
Bên cạnh đó, Hội nghị cũng phổ biến các quy định của Nghị định số 38/2026/NĐ-CP ngày 24/01/2026 của Chính phủ quy định về nhập khẩu cây mang theo bầu đất và mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.
Thứ trưởng Hoàng Trung phát biểu tại hội nghị. Ảnh: Thanh Sơn.
Tham dự Hội nghị có đại diện các đơn vị thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường; Sở Nông nghiệp và Môi trường, các cơ quan chuyên môn về trồng trọt và bảo vệ thực vật các tỉnh, thành phố; Hiệp, hội ngành hàng; người sản xuất, doanh nghiệp xuất khẩu và các tổ chức, cá nhân có liên quan.
Theo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, tất cả các vùng trồng và cơ sở đóng gói bưởi, chanh xuất khẩu sang Trung Quốc phải được đăng ký với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, thông qua Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, đồng thời được Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) phê duyệt trước khi tham gia xuất khẩu. Đây là yêu cầu bắt buộc nhằm bảo đảm công tác quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và kiểm soát chất lượng xuất khẩu được thực hiện thống nhất, minh bạch theo quy định của hai nước.
Vùng trồng xuất khẩu bưởi và chanh tươi phải áp dụng các biện pháp thực hành nông nghiệp tốt (GAP) hoặc tương đương, quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), thực hiện đầy đủ các biện pháp giám sát sinh vật gây hại mà phía Trung Quốc quan tâm; bảo đảm đặt bẫy ruồi đục quả; ghi chép, lưu trữ hồ sơ sản xuất theo quy định của Nghị định thư. Đặc biệt, đối với vùng trồng bưởi, việc bao trái là yêu cầu bắt buộc và phải được thực hiện trước thu hoạch tối thiểu 60 ngày.
Trong khuôn khổ chương trình, Bộ Nông nghiệp và Môi trường giao Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật phối hợp với các địa phương tổ chức khảo sát thực tế tại một số vùng trồng bưởi, chanh và cơ sở đóng gói nhằm đánh giá điều kiện sản xuất, công tác quản lý sinh vật gây hại, việc ghi chép hồ sơ và khả năng đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật của phía Trung Quốc.
Hoạt động khảo sát là cơ sở để cơ quan quản lý, địa phương, doanh nghiệp và người sản xuất trao đổi trực tiếp, nhận diện các nội dung cần tiếp tục hoàn thiện trong quá trình tổ chức sản xuất và xuất khẩu; qua đó nâng cao hiệu quả triển khai Nghị định thư trong thực tiễn, bảo đảm duy trì ổn định hoạt động xuất khẩu chính ngạch đối với mặt hàng bưởi và chanh của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc.
Bưởi và chanh nằm trong nhóm nông sản có lợi thế của Việt Nam. Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật cho biết, diện tích bưởi và chanh liên tục được mở rộng trong những năm gần đây tại Đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ, miền Trung và Trung du phía Bắc…
Rửa quả bưởi tại nhà máy Kim Thanh (Vĩnh Long) của Vina T&T Group. Ảnh: Thanh Sơn.
Đặc biệt với bưởi, Việt Nam thuộc nhóm quốc gia có quy mô sản xuất hàng đầu thế giới, diện tích khoảng 106 nghìn ha, sản lượng tiềm năng vượt 1 triệu tấn, với nhiều vùng sản xuất tập trung, quy mô lớn. Nhiều giống bưởi đặc sản như bưởi da xanh, bưởi Năm Roi... có năng suất cao, chất lượng tốt, được thị trường quốc tế đón nhận. So với một số trái cây khác, bưởi có thời gian bảo quản dài hơn, thuận lợi cho vận chuyển đường bộ và đường biển, giúp giảm áp lực chi phí logistics khi xuất khẩu chính ngạch.
Tuy nhiên, nông sản này chủ yếu vẫn được tiêu thụ trong nước, chưa hình thành được dòng chảy thương mại quy mô lớn, ổn định.
Trong bối cảnh Trung Quốc là thị trường nhập khẩu bưởi lớn, nhu cầu ngày càng tăng, việc Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) chính thức ký kết Nghị định thư vào ngày 15/4, trong khuôn khổ chuyến thăm cấp nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Trung Quốc sẽ tạo thêm dư địa tiêu thụ, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho người sản xuất.
Đây là kết quả của quá trình đàm phán kỹ thuật kéo dài từ năm 2019 giữa cơ quan chuyên môn hai nước trong lĩnh vực bảo vệ và kiểm dịch thực vật; đồng thời phản ánh sự phối hợp chặt chẽ và tinh thần trách nhiệm cao giữa hai bên trong việc hài hòa các yêu cầu kỹ thuật; thể hiện nỗ lực thúc đẩy mở cửa thị trường theo hướng chính ngạch, minh bạch, tuân thủ tiêu chuẩn quốc tế và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thương mại nông sản quốc tế.
Đến nay, Việt Nam và Trung Quốc đã ký tổng cộng hơn 20 thỏa thuận và nghị định thư liên quan đến xuất khẩu nông, lâm, thủy sản. Riêng trái cây, có khoảng 10 loại được xuất khẩu chính ngạch. Những năm gần đây, quá trình đàm phán và ký kết diễn ra nhanh hơn. Từ năm 2024, lần lượt các sản phẩm như sầu riêng đông lạnh, dừa tươi, ớt, mít... được ký, cho thấy xu hướng mở rộng danh mục nông sản được xuất khẩu theo đường chính ngạch ngày càng rõ nét.
Việc tổ chức Hội nghị công bố Nghị định thư, vì thế, càng có ý nghĩa quan trọng trong việc triển khai đồng bộ từ cơ quan quản lý, địa phương đến doanh nghiệp và người sản xuất; góp phần xây dựng chuỗi sản xuất - đóng gói - xuất khẩu chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu của thị trường nhập khẩu và phát triển bền vững ngành hàng bưởi, chanh của Việt Nam.
Chanh là cây trồng hàng hóa lớn tại nhiều địa phương, nhất là các tỉnh ĐBSCL. Ảnh: Văn Vũ.
Trong thời gian tới, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, với đầu mối là Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, cam kết phối hợp chặt chẽ với các địa phương, doanh nghiệp xuất khẩu và người sản xuất để triển khai hiệu quả Nghị định thư; tăng cường hướng dẫn kỹ thuật; tổ chức tuyên truyền, tập huấn, khảo sát thực tế vùng trồng, cơ sở đóng gói; kiểm tra, giám sát mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói; đồng thời tiếp tục thúc đẩy công tác đàm phán mở cửa thị trường đối với các sản phẩm nông sản tiềm năng khác của Việt Nam.
Phát biểu kết luận hội nghị, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Hoàng Trung ghi nhận nhiều địa phương đã chủ động rà soát, chuẩn hóa vùng trồng, tăng cường tập huấn, thúc đẩy liên kết chuỗi, ứng dụng truy xuất nguồn gốc và bước đầu nâng cao chất lượng quản lý mã số. Nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã cũng đã đầu tư bài bản vào vùng nguyên liệu, cơ sở đóng gói, kiểm soát chất lượng và tổ chức sản xuất theo yêu cầu thị trường.
Tuy nhiên, Thứ trưởng Hoàng Trung cũng cho rằng, phải nhìn nhận thẳng thắn rằng hiện nay vẫn còn nhiều khó khăn, tồn tại: Nhận thức về vai trò, ý nghĩa của mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói ở một số nơi còn chưa đầy đủ; việc ghi chép hồ sơ, nhật ký sản xuất ở nhiều vùng trồng, cơ sở đóng gói còn mang tính hình thức; năng lực quản lý, giám sát tại cơ sở còn hạn chế; liên kết giữa doanh nghiệp với vùng nguyên liệu chưa bền vững; tình trạng vi phạm về kiểm dịch thực vật, an toàn thực phẩm, gian lận mã số vẫn còn xảy ra ở một số nơi.




























