Tại Hội nghị về tái hoang dã do Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm tổ chức ngày 14 - 15/5 tại Hà Nội, ông Nguyễn Văn Chính - Giám đốc Vườn Quốc gia Cúc Phương có bài phát biểu nhấn mạnh sự cần thiết phải thay đổi cách tiếp cận trong bảo tồn thiên nhiên, từ việc “trả lại cá thể” sang phục hồi toàn diện hệ sinh thái.
Không dừng lại ở việc mở cửa lồng
Theo ông Chính, trong nhiều năm qua, thành công của công tác bảo tồn thường được đo bằng số lượng cá thể động vật hoang dã được cứu hộ và tái thả về tự nhiên. Tuy nhiên, cách tiếp cận này chưa phản ánh đầy đủ bản chất của tái hoang dã.
Hoạt động tái thả động vật về thiên nhiên tại Vườn Quốc gia Cúc Phương. Ảnh: Cúc Phương.
“Việc mở cửa lồng không phải là điểm kết thúc. Một cá thể trở lại rừng chưa đồng nghĩa với hệ sinh thái đã được phục hồi,” ông nói, đồng thời khẳng định tái hoang dã đúng nghĩa phải là quá trình khôi phục khả năng tự vận hành của tự nhiên, nơi các loài có thể sinh tồn, sinh sản và duy trì các tương tác sinh thái một cách ổn định, lâu dài.
Việt Nam thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận trong cứu hộ, phục hồi và tái thả động vật hoang dã, với sự tham gia của các vườn quốc gia, trung tâm cứu hộ và các tổ chức bảo tồn trong và ngoài nước. Nhiều loài quý hiếm đã được đưa trở lại môi trường tự nhiên; nhận thức xã hội về bảo tồn cũng dần được nâng cao.
Thực tế cho thấy, tại những khu vực bảo vệ rừng tốt, dữ liệu từ bẫy ảnh và khảo sát đều ghi nhận sự gia tăng cả về số lượng cá thể lẫn đa dạng loài. Đồng thời, các hoạt động tái thả cũng góp phần lan tỏa nhận thức tích cực đến cộng đồng địa phương.
Tuy vậy, ông Chính thẳng thắn nhìn nhận rằng phần lớn các hoạt động hiện nay mới dừng ở khâu “trả cá thể về rừng”, trong khi các điều kiện nền tảng để đảm bảo sự tồn tại lâu dài của các loài vẫn chưa được giải quyết đồng bộ. “Chúng ta làm khá tốt khâu đầu, nhưng chưa đi trọn quá trình,” ông nói.
Theo Giám đốc Vườn Quốc gia Cúc Phương, tái hoang dã tại Việt Nam đang đối mặt với ba nhóm thách thức chính.
Thứ nhất là sự suy giảm và phân mảnh sinh cảnh. Nhiều khu rừng không còn đủ diện tích, độ kết nối và chất lượng sinh thái để duy trì các quần thể động vật trong dài hạn.
Thứ hai là áp lực từ con người, đặc biệt là tình trạng săn bắt và buôn bán động vật hoang dã trái phép vẫn còn diễn ra. “Một khu rừng còn bẫy, còn săn thì chưa thể là nơi phù hợp cho tái hoang dã,” ông nhấn mạnh.
Thứ ba là những hạn chế về khoa học và quản trị, bao gồm thiếu dữ liệu dài hạn, thiếu quy trình chuẩn quốc gia, thiếu hệ thống theo dõi sau tái thả và nguồn lực còn phân tán.
Động vật hoang dã sinh trưởng tốt tại Vườn Quốc gia Cúc Phương. Ảnh: Cúc Phương.
Tiếp cận tái hoang dã như một quy trình sinh thái
Tại Vườn Quốc gia Cúc Phương, ông Chính cho biết đơn vị đang từng bước tiếp cận tái hoang dã như một quy trình sinh thái liên hoàn, với phương châm “thiên nhiên dẫn dắt, con người hỗ trợ”.
Việc lựa chọn loài được cân nhắc kỹ lưỡng dựa trên vai trò sinh thái, khả năng thích nghi và điều kiện sinh cảnh. Trước khi tái thả, các cá thể phải trải qua quá trình phục hồi hành vi tự nhiên, giảm phụ thuộc vào con người. Sau tái thả, hoạt động theo dõi tiếp tục được triển khai nhằm đánh giá khả năng hòa nhập và sinh tồn.
Đáng chú ý, công tác tái hoang dã được gắn chặt với giáo dục môi trường và sự tham gia của cộng đồng. Theo ông, một cá thể chỉ thực sự an toàn khi cộng đồng địa phương coi việc bảo vệ nó là trách nhiệm tự nhiên của mình, từ đó hình thành “lá chắn mềm” bền vững.
Dẫn chứng kinh nghiệm quốc tế, ông Chính nhắc tới việc tái thả sói xám tại Yellowstone National Park, giúp phục hồi cấu trúc và cân bằng của toàn hệ sinh thái, hay mô hình tại Khao Yai National Park với cách tiếp cận liên ngành và gắn kết sinh cảnh.
Theo ông, điểm chung của các mô hình thành công là sự kết hợp giữa sinh thái học, quản trị và sự tham gia của cộng đồng, thay vì chỉ tập trung vào yếu tố sinh học.
Cách tiếp cận về bảo tồn thiên nhiên, tái hoang dã động vật cần được thay đổi. Ảnh: Cúc Phương.
Trong thời gian tới, tái hoang dã được dự báo sẽ chuyển dịch theo 4 xu hướng lớn: từ phục hồi đơn loài sang phục hồi hệ sinh thái; từ bảo tồn khép kín sang mô hình có sự tham gia của xã hội; từ quản lý truyền thống sang ứng dụng công nghệ và dữ liệu; và trở thành một phần của chiến lược phát triển bền vững.
Để tái hoang dã trở thành hướng đi hiệu quả tại Việt Nam, ông Chính đề xuất 5 nhóm giải pháp trọng tâm: phục hồi sinh cảnh và mở rộng không gian bảo tồn; kiểm soát chặt chẽ săn bắt và buôn bán trái phép; chuẩn hóa quy trình khoa học quốc gia; đưa cộng đồng trở thành chủ thể của bảo tồn; và huy động nguồn lực xã hội, tăng cường hợp tác quốc tế có trách nhiệm.
Kết thúc bài phát biểu, ông nhấn mạnh tái hoang dã không chỉ là việc đưa một loài trở lại tự nhiên, mà sâu xa hơn là phục hồi mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên.
“Tương lai của tái hoang dã tại Việt Nam sẽ không được quyết định bởi số lượng cá thể được thả về rừng, mà bởi việc chúng ta có đủ quyết tâm để giữ cho những cánh rừng ấy thực sự còn hoang dã hay không,” ông Chính nói.

























![Công nghệ mới trên rẫy sắn: [Bài2] Đột phá canh tác tái sinh](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/192w/files/benlc/2026/05/12/0640-547199112374665608-1-180619_666.jpg)

