Thống nhất nhận thức và hành động
Trong nhiều năm qua, mã số vùng trồng (MSVT), mã số cơ sở đóng gói (CSĐG) đã trở thành “tấm hộ chiếu” bắt buộc đối với nông sản xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, cùng với tốc độ tăng trưởng nhanh chóng của ngành rau quả, đặc biệt ở các ngành hàng như sầu riêng, chuối, xoài, thanh long..., áp lực quản lý cũng ngày càng lớn khi các thị trường nhập khẩu liên tục siết chặt yêu cầu về kiểm dịch thực vật, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc.
Một vườn bưởi nguyên liệu của Công ty Cổ phần Tập đoàn Xuất – Nhập khẩu trái cây Chánh Thu. Ảnh: Việt Hương.
Trong bối cảnh đó, việc Chính phủ ban hành Nghị định số 38/2026/NĐ-CP về nhập khẩu cây mang bầu đất, quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói được xem là bước hoàn thiện thể chế quan trọng nhằm chuẩn hóa, minh bạch và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với sản xuất nông sản xuất khẩu.
Ngày 14/5, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tổ chức Hội nghị triển khai Nghị định 38/2026/NĐ-CP tại TP.HCM dưới sự chủ trì của Thứ trưởng Hoàng Trung với sự tham dự của nhiều địa phương, hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp xuất khẩu và cơ quan chuyên môn. Hội nghị được đánh giá không chỉ là hoạt động phổ biến quy định pháp luật mà còn là diễn đàn thống nhất nhận thức và hành động trong toàn ngành về yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy “cấp mã số” sang “quản lý và duy trì mã số một cách thực chất, bền vững”.
Không còn là “thủ tục xuất khẩu”
Nếu như trước đây, nhiều nơi vẫn coi mã số vùng trồng chủ yếu là điều kiện để “đủ hồ sơ xuất khẩu”, thì hiện nay bản chất của hệ thống mã số đã thay đổi hoàn toàn. Các nước nhập khẩu, đặc biệt là Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc hay Australia, không chỉ yêu cầu có mã số mà còn yêu cầu duy trì liên tục các điều kiện kỹ thuật liên quan đến sinh vật gây hại, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, điều kiện đóng gói, truy xuất nguồn gốc và hồ sơ giám sát.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đến tháng 5/2026, cả nước đã có 9.546 mã số vùng trồng và 1.525 mã số cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu sang nhiều thị trường lớn. Riêng thị trường Trung Quốc hiện có 4.323 mã số vùng trồng và 1.332 mã số cơ sở đóng gói được phê duyệt.
Tuy nhiên, trong khi số lượng mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói tăng nhanh thì số lượng cơ sở vi phạm cũng ngày càng gia tăng. Chỉ tính từ năm 2025 đến nay, đã có 403 mã số vùng trồng và 240 mã số cơ sở đóng gói nhận cảnh báo không tuân thủ từ phía Trung Quốc; trong đó 167 mã số vùng trồng và 99 mã số cơ sở đóng gói đã bị tạm dừng hoặc thu hồi.
Những con số này cho thấy hệ thống mã số hiện nay không còn là “giấy thông hành hình thức”, mà đã trở thành công cụ kiểm soát chất lượng và uy tín quốc gia đối với nông sản xuất khẩu.
Thứ trưởng Hoàng Trung phát biểu tại Hội nghị triển khai Nghị định 38/2026/NĐ-CP. Ảnh: Thanh Sơn.
Phát biểu tại Hội nghị triển khai Nghị định 38/2026/NĐ-CP, Thứ trưởng Hoàng Trung nhấn mạnh: nếu không quản lý tốt mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói thì chỉ một số trường hợp vi phạm cũng có thể ảnh hưởng đến cả ngành hàng, thậm chí tác động tới uy tín quốc gia và khả năng duy trì thị trường xuất khẩu.
Chuyển từ “cấp mã” sang “duy trì mã”
Một trong những thông điệp quan trọng nhất tại Hội nghị triển khai Nghị định 38 là yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy “cấp được nhiều mã số” sang “duy trì mã số bền vững”.
Thực tế cho thấy, trong thời gian qua, ở một số địa phương vẫn tồn tại tình trạng chạy theo số lượng, tập trung vào việc được cấp mã mà chưa chú trọng đúng mức tới công tác hậu kiểm, giám sát sau cấp mã. Việc ghi chép nhật ký sản xuất, truy xuất nguồn gốc, kiểm soát sinh vật gây hại hay dư lượng thuốc bảo vệ thực vật ở nhiều nơi còn mang tính hình thức. Đây cũng là nguyên nhân khiến nhiều mã số bị cảnh báo hoặc tạm dừng hoạt động.
Nghị định 38/2026/NĐ-CP lần đầu tiên quy định tương đối đầy đủ các cơ chế tạm dừng, phục hồi và thu hồi mã số với trình tự, biểu mẫu và thời hạn xử lý rõ ràng. Điều này tạo cơ sở pháp lý quan trọng để nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm và kỷ cương trong quản lý.
Không chỉ cơ quan quản lý, các tổ chức, cá nhân được cấp mã số cũng phải chịu trách nhiệm duy trì điều kiện kỹ thuật, thực hiện ghi chép, lưu trữ hồ sơ, phối hợp giám sát và truy xuất nguồn gốc theo yêu cầu.
Theo nhiều chuyên gia, đây chính là bước chuyển từ “quản lý hành chính” sang “quản trị chuỗi sản xuất xuất khẩu”.
Hoàn thiện thể chế cho cơ chế phân cấp đã triển khai thực tế
Một trong những nội dung được nhiều địa phương, doanh nghiệp quan tâm tại Hội nghị là vấn đề phân cấp quản lý MSVT, CSĐG.
Thực tế, công tác phân cấp cho địa phương đã được Bộ Nông nghiệp và Môi trường triển khai từ nhiều năm trước thông qua các văn bản hướng dẫn và chỉ đạo chuyên ngành. Bộ giữ vai trò xây dựng thể chế, ban hành hướng dẫn kỹ thuật, tổ chức tập huấn, xây dựng cơ sở dữ liệu, đàm phán với nước nhập khẩu và phối hợp hậu kiểm; trong khi địa phương trực tiếp tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra thực địa, cấp và quản lý mã số trên địa bàn.
Tuy nhiên, trước khi có Nghị định 38/2026/NĐ-CP, cơ chế này chủ yếu được triển khai trên cơ sở hướng dẫn hành chính và các quy định chuyên ngành, chưa có hành lang pháp lý đầy đủ ở cấp nghị định của Chính phủ.
Chính vì vậy, ý nghĩa lớn nhất của Nghị định 38/2026/NĐ-CP không phải là “chuyển giao” thẩm quyền từ Trung ương về địa phương, mà là luật hóa, chuẩn hóa và hoàn thiện cơ chế phân cấp đã được thực hiện trong thực tiễn thời gian qua.
Bưởi xuất khẩu trong cơ sở đóng gói của Công ty Cổ phần Tập đoàn Xuất – Nhập khẩu trái cây Chánh Thu. Ảnh: Việt Hương.
Lần đầu tiên, trách nhiệm và quyền hạn của từng cấp được quy định rõ trong một nghị định thống nhất của Chính phủ, từ khâu tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra, cấp mã số đến giám sát, tạm dừng, phục hồi hoặc thu hồi mã số.
Theo Nghị định, UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức triển khai việc cấp và quản lý MSVT, CSĐG trên địa bàn; chỉ đạo cơ quan chuyên môn kiểm tra, giám sát, hậu kiểm và xử lý vi phạm; đồng thời bố trí nguồn lực, nhân lực và kinh phí để duy trì hoạt động quản lý.
Điều này thể hiện rất rõ quan điểm quản lý của Bộ Nông nghiệp và Môi trường: quản lý mã số phải gắn với địa bàn thực tế, địa phương phải là lực lượng trực tiếp “bám vùng trồng, bám cơ sở đóng gói”, theo dõi liên tục việc duy trì điều kiện kỹ thuật và kịp thời xử lý vi phạm ngay từ cơ sở.
Địa phương là “tuyến đầu” giữ uy tín nông sản Việt
Tại Hội nghị triển khai Nghị định 38/2026/NĐ-CP, nhiều địa phương đã thẳng thắn nhìn nhận những khó khăn hiện nay trong công tác quản lý như thiếu nhân lực chuyên môn, kinh phí hạn chế, sản xuất còn nhỏ lẻ, liên kết chuỗi chưa chặt chẽ và nhận thức của một bộ phận người dân, doanh nghiệp còn chưa đầy đủ.
Tuy nhiên, các ý kiến cũng thống nhất rằng địa phương chính là “tuyến đầu” quyết định chất lượng thực chất của hệ thống mã số. Bởi trên thực tế, Trung ương không thể thay địa phương kiểm tra từng vùng trồng, từng cơ sở đóng gói hay giám sát từng lô hàng xuất khẩu. Nếu địa phương không chủ động hậu kiểm, không phát hiện sớm vi phạm hoặc buông lỏng quản lý thì nguy cơ bị nước nhập khẩu cảnh báo, siết kiểm tra hoặc tạm dừng nhập khẩu là rất lớn.
Do đó, cùng với việc hoàn thiện thể chế, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng yêu cầu các địa phương phải kiện toàn bộ máy quản lý chuyên môn; tăng cường phối hợp giữa ngành nông nghiệp, công an, quản lý thị trường và chính quyền cơ sở; đồng thời xử lý nghiêm các hành vi cho thuê mã số, sử dụng sai mã số, gian lận hồ sơ hoặc vi phạm quy định của nước nhập khẩu.
Xây dựng nền sản xuất minh bạch và có trách nhiệm
Một nội dung được đánh giá rất quan trọng trong Nghị định 38/2026/NĐ-CP là thúc đẩy chuyển đổi số và xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, thời gian tới sẽ đẩy mạnh số hóa toàn bộ quy trình từ tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra thực địa, cấp mã số, giám sát, cảnh báo đến xử lý vi phạm; đồng thời liên thông dữ liệu giữa Trung ương và địa phương để nâng cao hiệu quả quản lý và khả năng truy xuất nguồn gốc.
Đây không chỉ là yêu cầu quản lý trong nước mà còn là xu hướng tất yếu của thương mại nông sản toàn cầu, khi các thị trường nhập khẩu ngày càng coi trọng minh bạch thông tin, truy xuất điện tử và trách nhiệm chuỗi cung ứng.
Có thể nói, Nghị định 38/2026/NĐ-CP không chỉ là văn bản pháp lý về mã số vùng trồng hay cơ sở đóng gói. Xa hơn, đây là bước hoàn thiện thể chế nhằm xây dựng nền sản xuất nông nghiệp chuyên nghiệp, minh bạch và có trách nhiệm hơn với thị trường.
Và trong quá trình đó, địa phương chính là mắt xích quyết định để bảo vệ uy tín nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.






















![Công nghệ mới trên rẫy sắn: [Bài 3] Trụ cột năng lượng xanh](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/benlc/2026/05/13/3536-img_7034-184940_876.jpg)




