Từ hệ thống hạ tầng kỹ thuật ngoài khơi, đường ống dẫn khí đến đội ngũ kỹ sư giàu kinh nghiệm, Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) đang sở hữu những lợi thế hiếm có để phát triển các ngành năng lượng biển hiện đại. Theo TS Nguyễn Hùng Dũng, Luật Dầu khí (sửa đổi) cần trở thành "đạo luật mở đường" cho quá trình đó.
Luật Dầu khí (sửa đổi) tạo hành lang cho kỷ nguyên năng lượng biển
Anh hùng Lao động, TS Nguyễn Hùng Dũng - Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hội Dầu khí Việt Nam cho rằng, việc sửa đổi Luật Dầu khí cần được tiếp cận với tầm nhìn rộng hơn so với một đạo luật chỉ điều chỉnh hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí.
Anh hùng Lao động, TS Nguyễn Hùng Dũng - Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hội Dầu khí Việt Nam. Ảnh: Petrovietnam.
Theo ông, năng lượng là lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng, gắn trực tiếp với an ninh kinh tế, năng lực cạnh tranh quốc gia và mục tiêu phát triển bền vững. Những biến động địa chính trị toàn cầu thời gian qua cho thấy khả năng chủ động nguồn cung năng lượng là một trong những yếu tố quyết định sức chống chịu của nền kinh tế.
Vì vậy, hoàn thiện Luật Dầu khí không chỉ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác nguồn tài nguyên dầu khí mà còn tạo nền tảng thể chế cho việc bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia trong dài hạn.
Bối cảnh sửa đổi Luật Dầu khí cũng diễn ra trong giai đoạn Việt Nam đang đẩy mạnh thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển, hướng tới khai thác hiệu quả không gian biển như một động lực tăng trưởng mới. Bên cạnh dầu khí, biển Việt Nam còn mở ra tiềm năng lớn trong các lĩnh vực như điện gió ngoài khơi, LNG, hydrogen, thu giữ và lưu trữ carbon (CCS/CCUS), cùng các ngành dịch vụ kỹ thuật và công nghiệp cơ khí biển.
Không chỉ dừng lại ở việc phát triển ngành dầu khí, Luật Dầu khí (sửa đổi) còn được kỳ vọng tạo nền tảng cho quá trình hình thành các trung tâm công nghiệp - năng lượng ven biển, thu hút đầu tư, tạo việc làm và nâng cao năng lực công nghiệp quốc gia. Đây cũng là cơ sở để gia tăng giá trị khai thác từ không gian biển và đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững của đất nước.
Khai mở nguồn lực từ hệ sinh thái dầu khí hiện hữu
Đánh giá về triển vọng phát triển hệ sinh thái công nghiệp - năng lượng biển hiện đại, TS Nguyễn Hùng Dũng cho rằng Việt Nam đang hội tụ nhiều lợi thế quan trọng để định hình một không gian phát triển mới trên biển. Đó là lợi thế về vị trí địa kinh tế, với hơn 3.260 km bờ biển, nguồn tài nguyên biển đa dạng cùng tiềm năng lớn trong các lĩnh vực dầu khí, điện gió ngoài khơi, cảng biển, logistics và công nghiệp cơ khí biển.
Đặc biệt, sau hơn nửa thế kỷ xây dựng và phát triển ngành dầu khí, Việt Nam đã từng bước hình thành một hệ sinh thái công nghiệp dầu khí tương đối đồng bộ, từ năng lực khảo sát địa chất - địa vật lý, tìm kiếm thăm dò, phát triển mỏ đến hệ thống công trình khai thác ngoài khơi, đường ống dẫn khí, trung tâm điện khí, lọc hóa dầu, cảng biển chuyên dụng và các căn cứ dịch vụ kỹ thuật.
Theo TS Nguyễn Hùng Dũng, đây không chỉ là những tài sản vật chất có giá trị kinh tế lớn mà còn là nguồn lực chiến lược phục vụ quá trình phát triển các ngành năng lượng mới. Việc tận dụng hiệu quả hệ thống hạ tầng, kinh nghiệm quản lý vận hành và năng lực công nghệ đã được tích lũy sẽ giúp rút ngắn thời gian triển khai, tối ưu chi phí đầu tư và nâng cao hiệu quả phát triển các dự án năng lượng biển trong tương lai.
Bên cạnh nền tảng hạ tầng, năng lực làm chủ công nghệ và triển khai các công trình quy mô lớn trên biển của Petrovietnam cùng các đơn vị thành viên cũng là một lợi thế đặc biệt quan trọng. Những kinh nghiệm trong khảo sát, thiết kế, chế tạo, lắp đặt, vận hành và bảo dưỡng công trình ngoài khơi hoàn toàn có thể được mở rộng sang các lĩnh vực mới như điện gió ngoài khơi, hydrogen xanh, thu giữ và lưu trữ carbon (CCS/CCUS) hay các mô hình trung tâm năng lượng biển tích hợp.
TS Nguyễn Hùng Dũng cho rằng, nếu xây dựng được hành lang pháp lý phù hợp, Việt Nam không chỉ khai thác hiệu quả tài nguyên dầu khí mà còn có thể phát triển một hệ sinh thái công nghiệp - năng lượng biển hiện đại. Ảnh: Petrovietnam.
Xu hướng phát triển năng lượng trên thế giới hiện nay cho thấy mô hình các dự án đơn lẻ đang dần được thay thế bằng các cụm công nghiệp - năng lượng biển tích hợp. Trong cùng một không gian biển, nhiều hoạt động có thể được kết nối và bổ trợ lẫn nhau, từ khai thác dầu khí, phát triển điện gió ngoài khơi, sản xuất hydrogen, lưu trữ carbon đến logistics và các dịch vụ công nghiệp hỗ trợ.
Tuy nhiên, để hiện thực hóa những tiềm năng đó, yếu tố có ý nghĩa quyết định vẫn là thể chế. Theo TS Nguyễn Hùng Dũng, Luật Dầu khí (sửa đổi) cần được xây dựng với tầm nhìn dài hạn, trở thành một “đạo luật mở đường” cho quá trình hình thành hệ sinh thái công nghiệp - năng lượng biển Việt Nam.
Trong đó, Luật Dầu khí cần tạo cơ sở pháp lý cho việc khai thác đa mục tiêu các công trình, hạ tầng dầu khí hiện hữu; cho phép chuyển đổi, dùng chung hạ tầng phục vụ các dự án năng lượng mới đồng thời thúc đẩy sự liên kết giữa ngành dầu khí với các lĩnh vực điện gió ngoài khơi, LNG, hydrogen và CCS/CCUS.
Cùng với việc hoàn thiện khung pháp lý, cần có các cơ chế đủ sức hấp dẫn để huy động nguồn lực xã hội, thu hút đầu tư trong và ngoài nước vào các dự án năng lượng biển quy mô lớn, qua đó thúc đẩy sự hình thành các trung tâm công nghiệp - năng lượng ven biển có khả năng tạo động lực phát triển cho các vùng kinh tế.
Thể chế mới tạo động lực cho không gian phát triển biển
Theo TS Nguyễn Hùng Dũng, giá trị cốt lõi của việc sửa đổi Luật Dầu khí không chỉ nằm ở việc hoàn thiện các quy định quản lý hoạt động dầu khí, mà còn ở khả năng mở rộng không gian phát triển, phát huy hiệu quả những nguồn lực mà Petrovietnam đã tích lũy trong hơn 50 năm qua.
Những nguồn lực đó bao gồm hệ thống cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật ngoài khơi, năng lực quản trị dự án, kinh nghiệm vận hành cùng đội ngũ cán bộ, kỹ sư, chuyên gia có trình độ cao. Đây là nền tảng quan trọng để Việt Nam từng bước chuyển từ khai thác tài nguyên đơn thuần sang phát triển một hệ sinh thái công nghiệp - năng lượng biển có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao.
Trong tiến trình chuyển dịch năng lượng, dầu khí vẫn tiếp tục giữ vai trò là nguồn năng lượng nền, đồng thời là nguồn năng lượng chuyển tiếp quan trọng trong nhiều thập kỷ tới. Vì vậy, cùng với việc phát triển các lĩnh vực năng lượng mới, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế để nâng cao hiệu quả khai thác nguồn tài nguyên hiện có, tăng hệ số thu hồi dầu khí, phát triển các mỏ cận biên và bảo đảm nguồn cung năng lượng trong nước.
Nhìn ở tầm chiến lược, sửa đổi Luật Dầu khí là cơ hội để Việt Nam kiến tạo một hành lang pháp lý mới cho phát triển kinh tế biển. Nếu phát huy hiệu quả những lợi thế sẵn có, kết hợp với cơ chế chính sách phù hợp, Việt Nam có thể không chỉ khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên dầu khí mà còn từng bước hình thành hệ sinh thái công nghiệp - năng lượng biển hiện đại, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển.









![Điểm nghẽn logistics: [Bài 3] Gỡ nút thắt từ hạ tầng đến chuỗi cung ứng](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/thuynt/2026/07/06/5152-44f4a7350fda8e84d7cb-134730_618-134733.jpg)














