Giữ rừng từng được coi là gánh nặng của cộng đồng miền núi, khi lợi ích kinh tế không đáng kể so với nhu cầu sinh kế. Nhưng từ khi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng ra đời năm 2011, cục diện thay đổi. Người dân có thu nhập trực tiếp từ công sức bảo vệ rừng, còn doanh nghiệp trả tiền để sử dụng nguồn nước, cảnh quan và môi trường.
Sau hơn 15 năm, chính sách này đã trở thành một trong những sáng kiến được quốc tế đánh giá cao nhất của ngành lâm nghiệp Việt Nam.

Cộng đồng người dân tham gia tuần rừng, giữ rừng. Ảnh: Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Lai Châu.
Kết quả của chính sách hiện hữu ở nhiều bản làng miền núi, trong đó có TP Huế, nơi các tuyến đường nội bản được bê tông hóa, nhà văn hóa thôn được sửa sang từ nguồn kinh phí cộng đồng trích lại trong quỹ chi trả dịch vụ môi trường rừng. Ngoài thêm thu nhập từ việc giữ rừng, người dân còn được hưởng lợi trực tiếp từ những công trình phục vụ sinh hoạt hằng ngày.
Huế là một trong số các địa phương vùng Bắc Trung bộ tham gia thí điểm chuyển nhượng kết quả giảm phát thải và quản lý tài chính theo thỏa thuận chi trả giảm phát thải (ERPA). Đây là bước đi tiếp nối tiến trình REDD+ mà Việt Nam theo đuổi nhiều năm qua, nhằm giảm phát thải khí nhà kính do mất và suy thoái rừng, đồng thời gia tăng trữ lượng carbon.
Ông Nguyễn Tất Tùng, Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng TP Huế, thống kê, toàn địa bàn hiện có hơn 205,5 nghìn ha rừng tự nhiên được đưa vào cơ chế chi trả ERPA. Trong giai đoạn 2023-2025, gần 136 tỷ đồng đã được điều phối để chi trả cho hơn 600 chủ rừng là tổ chức, cộng đồng nhóm hộ và chính quyền các xã.
Chỉ tính riêng 2 năm đầu thực hiện (2023-2024), tỷ lệ chi trả đã đạt trên 99% tổng số tiền cho các đối tượng hưởng lợi. TP Huế đặt mục tiêu đến cuối năm 2025 sẽ chi trả hơn 95% nguồn kinh phí còn lại theo kế hoạch, bảo đảm hiệu quả và đúng tiến độ.

Người dân chờ nhận chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng. Ảnh: Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam.
Chương trình còn hỗ trợ sinh kế cho gần 100 cộng đồng với tổng kinh phí hơn 5 tỷ đồng, tập trung vào những hạng mục thiết thực như xây dựng hàng rào bảo vệ rừng, cổng chào thôn bản, nhà vệ sinh, hệ thống chiếu sáng bằng năng lượng mặt trời, hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi...
Cách tiếp cận mới này lấy người dân làm trung tâm, phát huy vai trò cộng đồng trong bảo vệ rừng, đồng thời tạo động lực phát triển sinh kế bền vững.
Qua 3 năm triển khai ERPA, Huế ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực trong công tác quản lý, bảo vệ rừng. Tổng diện tích rừng bị phá trong năm 2024 chỉ còn 2,68 ha với 25 vụ vi phạm, mức thấp nhất trong giai đoạn 2021-2024. Trong đó, rừng sản xuất chiếm phần lớn diện tích bị xâm hại (hơn 2,6 ha), rừng phòng hộ bị ảnh hưởng rất ít (khoảng 0,06 ha), còn rừng đặc dụng không xảy ra thiệt hại nào.
Đáng mừng hơn, toàn bộ diện tích rừng tự nhiên được chi trả đã góp phần nâng cao chất lượng công tác bảo vệ rừng và duy trì tỷ lệ che phủ rừng của thành phố ở mức 57,18%.

PGS.TS Phí Hồng Hải, Phó Giám đốc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam: "Chi trả dịch vụ môi trường rừng được tiến hành trên cơ sở khoa học vững chắc". Ảnh: Bảo Thắng.
Huế là một trong những điểm sáng trong 15 năm chi trả dịch vụ môi trường rừng được áp dụng trên quy mô toàn quốc. Hơn 25.000 tỷ đồng được chi trả lũy kế, gần nửa triệu hộ dân có thêm nguồn thu nhập thường xuyên, hàng nghìn cộng đồng có điều kiện duy trì các công trình phúc lợi.
Các doanh nghiệp thủy điện, nước sạch, du lịch trở thành bên có trách nhiệm chi trả cho dịch vụ mà họ được hưởng lợi. Với chính sách này, Việt Nam được đánh giá là quốc gia tiên phong ở Đông Nam Á về chi trả dịch vụ môi trường rừng.
PGS.TS Phí Hồng Hải, Phó Giám đốc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, đánh giá, thành công của chi trả dịch vụ môi trường rừng có được là nhờ cơ sở khoa học vững chắc, từ khâu đo đạc, tính toán diện tích đến xác định nguồn chi trả và giám sát kết quả.
“Người dân chỉ giữ rừng khi lợi ích được đảm bảo. Chính sách đã chứng minh được điều này, vì thế cần tiếp tục được mở rộng sang các dịch vụ mới như hấp thụ và lưu giữ carbon, giá trị cảnh quan, hay khai thác tri thức bản địa”, ông Hải nói. Theo ông, để duy trì hiệu quả, chính sách chi trả cần được thiết kế linh hoạt hơn, khuyến khích cộng đồng tái đầu tư nguồn thu vào những mô hình sinh kế gắn với quản lý rừng bền vững.
Chưa bằng lòng với những gì đã có, ông Lê Văn Thanh, Phó Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam, nhận định, nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn tới là tham mưu, hoàn thiện khung pháp lý để thúc đẩy phát triển thị trường tín chỉ carbon rừng. Quỹ hiện tham gia góp ý cho dự thảo Nghị định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon rừng, coi đây là cơ hội để chuyển hóa tiềm năng sinh thái thành giá trị kinh tế.
Cùng với đó, Quỹ sẽ đẩy mạnh giám sát việc chi trả tại các địa phương, bảo đảm triển khai đúng đối tượng, đúng tiến độ, minh bạch về tài chính. Trong đó, công tác truyền thông được coi trọng để nâng cao nhận thức của các bên liên quan, đồng thời kết nối với đối tác quốc tế để giúp Việt Nam hội nhập sâu hơn vào xu thế phát thải thấp và phát triển bền vững.

Nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng giúp cộng đồng, người dân yên tâm giữ rừng. Ảnh: Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm.
Từ phía cơ quan quản lý, ông Phạm Hồng Lượng, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, đánh giá, chi trả dịch vụ môi trường rừng là một trong những chính sách thành công nhất của ngành lâm nghiệp trong nhiều thập kỷ.
“Việc chi trả đã chứng minh hiệu quả, nhưng để duy trì sức sống lâu dài, chúng ta phải mở rộng biên độ nguồn thu, đồng thời đảm bảo tính minh bạch và công bằng, tạo niềm tin cho người dân và doanh nghiệp”, ông Lượng phân tích.
Trường hợp tại Huế cho thấy rõ tác động của chính sách khi một phần nguồn chi trả được cộng đồng đầu tư trở lại cho hạ tầng dân sinh. Đây cũng là minh chứng để thấy chi trả dịch vụ môi trường rừng từng bước trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.
Trong không khí cả nước kỷ niệm đại lễ 80 năm, hành trình 15 năm của chi trả dịch vụ môi trường rừng, dù chưa dài nhưng nổi rõ quyết tâm đổi mới chính sách lâm nghiệp. Từ một cơ chế thử nghiệm, dịch vụ môi trường rừng dần trở thành nguồn tài chính ổn định, tạo ra sự thay đổi trong cách quản lý, bảo vệ rừng và gỡ được "nút thắt" bấy lâu giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường.