Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam cán mốc hơn 15 tỷ USD. Con số này đưa nước ta lọt nhóm 5 quốc gia xuất khẩu gỗ lớn nhất thế giới, chỉ sau Trung Quốc, EU, Hoa Kỳ và Canada.
Đó không đơn thuần là một cột mốc kinh tế, mà là tấm gương phản chiếu cuộc chuyển mình mạnh mẽ, từ khai thác và sơ chế gỗ thô sang một ngành công nghiệp chế biến tinh, vững vàng trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Từng bước, gỗ trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Ảnh: Bảo Thắng.
Ngược dòng thời gian, cuối thập niên 1990, giá trị xuất khẩu gỗ của Việt Nam chỉ ở mức vài trăm triệu USD. Năm 2000 mới đạt 219 triệu USD, chủ yếu là gỗ tròn, dăm gỗ. Những con tàu xuất cảng ngày ấy mang theo lô hàng giá trị thấp, ít ai hình dung chỉ 2 thập kỷ sau, ngành gỗ Việt Nam sẽ ghi danh trên bản đồ thương mại toàn cầu.
Đến 2010, kim ngạch đã vượt 3,4 tỷ USD. Năm 2020 cán mốc 11 tỷ USD và năm 2025 bứt phá lên 15 tỷ USD. Con đường ấy gói trong đó cả sự khát khao hội nhập và cả những lựa chọn chính sách dứt khoát.
Bước ngoặt quan trọng chính là dịch chuyển cấu trúc sản phẩm. Từ chỗ chủ yếu xuất thô, ngành gỗ dần tập trung vào chế biến sâu. Ngày nay, tỷ trọng đồ gỗ tinh chế và nội thất cao cấp đã chiếm trên 60% tổng kim ngạch.
Những nhà máy không còn chỉ cắt, xẻ gỗ đơn thuần mà đã đưa công nghệ sơn phủ thân thiện môi trường, dây chuyền tự động, thậm chí sử dụng trí tuệ nhân tạo để thiết kế sản phẩm, quản lý đơn hàng. Ở các thủ phủ đồ gỗ như Đồng Nai, Bắc Ninh, không khó để bắt gặp những khu công nghiệp gỗ quy mô hàng chục hecta, với dây chuyền hiện đại ngang tầm các trung tâm sản xuất quốc tế.

Phong trào trồng rừng gỗ lớn được đẩy mạnh ở nhiều địa phương. Ảnh: Bích Hợp.
Sự thay đổi ấy dựa trên nền tảng rừng trồng trong nước. Việt Nam hiện có hơn 4,7 triệu ha rừng trồng, cung ứng khoảng 70% nguyên liệu cho ngành chế biến. Việc chuyển từ khai thác rừng tự nhiên sang rừng trồng gỗ lớn, từ chu kỳ 5-7 năm sang 10-15 năm, không chỉ nâng giá trị mỗi hecta rừng lên gấp đôi mà còn giúp sản phẩm gỗ Việt đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe về nguồn gốc hợp pháp. Hàng trăm nghìn hecta đã được cấp chứng chỉ FSC, mở đường vào các thị trường cao cấp.
Trên nền tảng đó, những doanh nghiệp đầu tàu đã vươn lên thành “ông lớn tỷ đô”, vừa đầu tư nhà máy hiện đại vừa trực tiếp tham gia mạng lưới cung ứng toàn cầu. Sản phẩm gỗ Việt Nam có mặt trong chuỗi IKEA, Walmart, len lỏi vào thị trường nội thất Bắc Mỹ, châu Âu, Nhật Bản. Thương hiệu “Made in Vietnam” đã trở thành lựa chọn quen thuộc ở những kệ hàng khó tính.
Ông Tô Xuân Phúc, chuyên gia của Forest Trends, cho rằng mốc 15 tỷ USD là một bước trưởng thành, nhưng thách thức lớn nhất lại không nằm ở sản lượng. Ông cảnh báo: “Thị trường thế giới đang siết chặt chuẩn mực về minh bạch, phát triển bền vững. Nếu muốn giữ vị thế, gỗ Việt phải thực sự ‘xanh’ từ nguyên liệu đến chế biến, từ thị trường đến thương hiệu”.
Theo ông, chính sách cần tiếp tục mở rộng diện tích rừng có chứng chỉ, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và năng lực quản trị.

Ông Tô Xuân Phúc: "Sản phẩm gỗ được yêu cầu ngày càng cao về minh bạch, phát triển bền vững". Ảnh: Bảo Thắng.
Một yếu tố khác không thể bỏ qua là hội nhập. Việc Việt Nam ký Hiệp định VPA/FLEGT với Liên minh châu Âu đã mở cơ chế chứng minh tính hợp pháp của gỗ xuất khẩu sang EU, tạo cú hích lớn về niềm tin và thị trường.
Cùng với hàng loạt hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, ngành gỗ đã nhanh chóng tận dụng lợi thế để mở rộng thị phần. Xuất khẩu không chỉ là câu chuyện của kim ngạch, mà còn là một hành trình định vị thương hiệu quốc gia.
Thương hiệu ấy, theo nội bộ ngành gỗ, còn đến từ vấn đề nội lực. Ông Ngô Sỹ Hoài, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội gỗ và Lâm sản Việt Nam nhìn nhận, 3 thập kỷ qua đã chứng minh sức bật phi thường của ngành, nhưng để đi xa hơn phải dựa vào chính mình.
“Nguồn nguyên liệu trong nước cần được củng cố, nhân lực phải chuẩn hóa, công nghệ chế biến phải hiện đại hơn. Và điều quan trọng không kém là thị trường nội địa gần 100 triệu dân phải là bệ đỡ. Doanh nghiệp gỗ Việt không thể chỉ chạy theo đơn hàng xuất khẩu. Chỉ khi chinh phục được người tiêu dùng trong nước, chúng ta mới thực sự có nền tảng vững chắc”, ông nói.
Thành công của ngành gỗ còn để lại dấu ấn xã hội. Hơn 700.000 lao động trực tiếp và hàng triệu lao động gián tiếp đang tham gia vào chuỗi giá trị này. Với nhiều nông dân ở miền Trung, Tây Bắc, trồng rừng gỗ lớn không chỉ mang lại thu nhập ổn định mà còn giúp xóa đói giảm nghèo, thay đổi tập quán nương rẫy, giữ đất giữ nước. Đó là sự gắn kết hiếm có giữa sinh kế và bảo vệ môi trường.

Từ những cánh rừng trồng, gỗ Việt vươn ra thế giới. Ảnh: Tùng Đinh.
Nhưng con đường phía trước không bằng phẳng. Các thị trường chính của gỗ Việt như Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc ngày càng khắt khe về vấn đề môi trường và truy xuất nguồn gốc. Cạnh tranh từ Trung Quốc, ASEAN không hề giảm bớt.
Trong bối cảnh ấy, sức bền của ngành gỗ Việt Nam sẽ được thử thách không chỉ ở năng lực sản xuất, mà còn ở khả năng chứng minh tính minh bạch, trách nhiệm với môi trường và xã hội.
80 năm ngành lâm nghiệp, 15 tỷ USD xuất khẩu và 1 vị trí trong tốp 5 cường quốc xuất khẩu gỗ - những con số ấy vừa là niềm tự hào, vừa là lời nhắc nhở. Khi sản phẩm gỗ Việt có thể đứng vững ở những thị trường khó tính nhất, cũng là lúc rừng không còn chỉ là lá phổi xanh, mà trở thành động lực kinh tế bền vững của đất nước.