Trời Hà Nội vừa chập choạng tối, chúng tôi nổ máy chiếc bán tải, bắt đầu chuyến hành trình dài gần 300 cây số lên vùng đất địa đầu Hà Giang, thuộc tỉnh Tuyên Quang. Ngoài ô cửa kính, những dãy đèn đường dần khuất sau lưng, nhường chỗ cho bóng đêm rì rầm phủ xuống núi non phương Bắc.
6 giờ sáng hôm sau, khi ánh nắng đầu ngày vừa ló rạng trên đỉnh núi, sau bữa sáng, chúng tôi nhắm tới các cánh rừng thâm u thuộc Vườn Quốc gia Du Già, nơi những cá thể voọc mũi hếch, loài đặc hữu mà trên toàn thế giới chỉ duy nhất Việt Nam ta mới có.

Đoàn băng rừng, vượt suối khám phá những cánh rừng và tìm hiểu về voọc mũi hếch - linh trưởng quý hiếm của Việt Nam. Ảnh: Đỗ Doãn Hoàng.
“Hành xác” giữa rừng già
Len lỏi qua những cung đường đèo quanh co rời phường Hà Giang 1, chúng tôi đến địa phận xã Tùng Bá (tỉnh Tuyên Quang), điểm xuất phát cho hành trình băng rừng tìm voọc mũi hếch. Ẩn mình giữa những dãy núi đá vôi kỳ vĩ, nơi đây là một trong những vùng nguyên sinh quý giá cuối cùng còn sót lại của miền Bắc.
Được thành lập vào năm 2015, trên cơ sở sáp nhập Khu Bảo tồn Loài và Sinh cảnhVoọc mũi hếch Khau Ca và Khu Bảo tồn Thiên nhiên Du Già, vườn quốc gia này trải rộng hơn 15.000 ha. Nơi đây được mệnh danh là “ngân hàng sống” của hệ sinh thái rừng đá vôi vùng Đông Bắc, với 5 kiểu rừng chính, hơn 1.000 loài thực vật và hơn 300 loài động vật - trong đó có hàng chục loài quý hiếm.
Nhưng giữa tất cả những điều kỳ diệu ấy, cái tên khiến các nhà bảo tồn trên toàn cầu đặc biệt chú ý là: Voọc mũi hếch Bắc kỳ (Rhinopithecus avunculus) - loài linh trưởng đặc hữu chỉ có ở Việt Nam, hiện chúng chỉ còn phân bố duy nhất tại khu vực Khau Ca, thuộc vùng lõi của rừng của Vườn Quốc gia Du Già. Với gần 200 cá thể đã được được ghi nhận, voọc mũi hếch đã và đang được xếp vào danh sách 25 loài linh trưởng có nguy cơ tuyệt chủng cao nhất hành tinh. Do thế, với người dân thường, việc nhìn thấy một cá thể voọc mũi hếch ngoài tự nhiên là điều vô cùng hiếm hoi.

Đoàn được các đồng chí kiểm lâm và cán bộ bảo vệ rừng nhiều năm kinh nghiệm dẫn đường và hỗ trợ trong hành trình khám phá. Ảnh: Đỗ Doãn Hoàng.
Trước chuyến đi, tôi được chuyên gia bảo tồn Chu Xuân Cảnh, Quản lý Dự án Bảo tồn Voọc mũi hếch của FFI (Tổ chức Bảo tồn Động thực vật Quốc tế) giới thiệu và kết nối với các đồng chí kiểm lâm và cán bộ bảo vệ rừng nhiều năm kinh nghiệm tại xã Tùng Bá. Họ là những người sẽ trực tiếp dẫn đường và hỗ trợ chúng tôi trong hành trình khám phá rừng Khau Ca và tìm hiểu về đàn linh trưởng quý hiếm này.
Ngay từ những bước chân đầu tiên, rừng Khau Ca đã bắt đầu thử thách cả thể lực lẫn lòng kiên nhẫn của tất cả chúng tôi. Con suối đầu tiên hiện ra ngay khi chúng tôi vừa khuất sau những mái nhà cuối bản. Dòng nước trong vắt và lạnh buốt, rí rách chảy qua lòng đá phủ đầy rêu.
“Mùa này còn đỡ đấy. Vào mùa mưa, rêu suối mọc trơn như mỡ, có khi đứng còn không vững chứ nói gì đến lội qua!”, một anh gùi đồ cho chúng tôi vừa lội suối vừa lẩm bẩm, tay vẫn giữ chặt quai ba lô cho khỏi trượt.
Vượt qua con suối đầu tiên ấy, chúng tôi gặp một chiếc cổng trâu - khung gỗ đơn sơ dựng ngang lối đi, được đồng bào vùng cao dựng lên từ lâu để ngăn trâu bò khi thả rông chúng trong rừng. Cổng không có người canh, cũng chẳng cần khóa – chỉ vài thân gỗ buộc chéo bằng dây rừng, vững chãi và lặng lẽ giữa núi rừng. Đó không chỉ là gianh giới giữa bản làng và rừng già, mà còn là “cột mốc” báo hiệu cho chúng tôi rằng: từ đây trở đi, mọi dấu vết của cuộc sống thường nhật sẽ dần lui lại ở phía sau. Chúng tôi đang đi dần về phía hoang vu.

Ba tiếng đồng hồ vượt suối, băng rừng, trườn dốc, né vắt và bám rễ cây, cuối cùng chúng tôi cũng tới được lán kiểm lâm giữa rừng Khau Ca. Ảnh: Kiên Trung.
Ba tiếng đồng hồ vượt suối, băng rừng, trườn dốc, né vắt và bám rễ cây, cuối cùng chúng tôi cũng tới được lán kiểm lâm giữa rừng Khau Ca - một căn nhà sàn gỗ nhỏ nép mình trong lòng rừng cổ thụ. Nếp nhà sàn đơn sơ, mái lá và vách gỗ cũ, tất cả đều đã bạc màu vì sương gió.
Trong lán có điện được cấp từ thuỷ điện nhỏ xíu mà bà con làm tạm ven suối, nhưng chỉ đủ dùng cho bóng đèn công suất nhỏ và sạc vài thiết bị như điện thoại, máy bộ đàm phục vụ việc tuần tra rừng. Mọi thứ, ở giữa rừng, phải dè sẻn từng chút. Sóng điện thoại chập chờn, lúc có lúc không, ra khỏi khu vực lán là mất sóng hoàn toàn. Không tiếng xe, không tiếng người; chỉ có tiếng gió lùa qua tán cây. Giữa lán có một góc bếp nhỏ, lửa đã tắt từ đêm trước, tro nguội phủ một lớp mỏng trên viên đá kê nồi tạm bợ.
Sống trong lán và dành hầu hết thời gian để đi tuần rừng, là những người kiểm lâm và các tổ đội bà con cùng tham gia bảo vệ rừng Khau Ca. Có người sống ở rừng còn nhiều hơn ở nhà. Họ thuộc từng vệt phân voọc, từng nhánh cây thường xuyên có dấu hiệu xuất hiện của đàn voọc. Mỗi mùa hoa nghiến nở, họ lại dõi theo chúng như tìm kiếm những đứa trẻ nhỏ đi hoang.
“Không phải ai vào cũng gặp được voọc. Có người đi cả tuần, không thấy lấy một lần. Nó tránh người giỏi lắm”, một kiểm lâm trẻ nói, tay vẫn đang buộc lại đôi giày rách mũi bằng dây rừng.
Chạm vào thế giới hoang dã - Gặp gỡ voọc mũi hếch
Ở rừng Khau Ca, mọi cuộc hẹn với loài voọc mũi hếch đều bắt đầu từ… trời. Không thể lên lịch sẵn, vì mọi thứ hoàn toàn phụ thuộc vào thời tiết và rất nhiều bí ẩn trong tập tính hoang dã của đàn voọc. Trước ngày vào rừng, chúng tôi phải nhờ cán bộ kiểm lâm và những chuyên gia địa phương theo dõi dự báo khí tượng từng giờ, ngước nhìn mây trời, tính toán cả hướng gió và độ ẩm trong khu vực. Chỉ cần một lớp sương mỏng hơn thường lệ, hay một cơn mưa rừng bất chợt đổ xuống, hoặc một cành gây gẫy đổ vô tình gây ra sự xáo động quá mức… đều có thể khiến mọi cơ hội tìm thấy hoặc chụp ảnh được đàn voọc mũi hếch đều dễ dàng tan biến. Voọc sẽ không xuất hiện, hoặc nếu có thì cũng chỉ là cái bóng mờ xa tít tận ngọn các cây nghiến cao vút, không một ống kính nào “vươn” tới nổi.

Đoàn nghỉ chân sau thời gian dài đi bộ trong rừng, vượt rừng, lội suối.
Sau nhiều ngày thăm dò, bốn nhóm trinh sát người bản địa chia ra bốn hướng theo bản đồ đã vạch sẵn. Các điểm cao rừng Khau Ca được gọi bằng ký hiệu như trong quân sự: “H300”, “N100” - những cái tên không hề ngẫu nhiên, được đặt ra từ suốt 20 năm bám rừng của anh em tham gia làm bảo tồn thiên nhiên, là người trong và ngoài nước. Họ liên lạc với nhau bằng bộ đàm. Chỉ cần phát hiện một tiếng động lạ, một chiếc đuôi đen vút qua như lọn phất trần, hay vài tán hoa nghiến bị lay động bất thường đều được các “tai mắt của rừng” thông báo ngay về… “sở chỉ huy dã chiến”.
Tôi đi cùng một nhóm men theo cả hệ thống “sống lưng khủng long”, dải đá tai mèo chạy ngoằn ngoèo qua các đỉnh núi đá vôi sắc nhọn như dao. Mỗi bước chân đều phải dò dẫm, trượt một cái, có thể là bị rơi xuống khe sâu, thậm chí thiệt mạng. Cành cây bám được thì cứ bám, rễ cây mọc ngược từ vách đá, vịn được thì cứ vịn, mùi hoa nghiến thoảng trong gió như tín hiệu ngầm báo rằng: có thể, hôm nay là ngày chúng tôi sẽ thấy được voọc mũi hếch. Bởi mùa này, thức ăn chính của loài này là hoa nghiến trắng, loài hoa quyến rũ đang thơm ngát giữa núi rừng…

Voọc mũi hếch - loài linh trưởng đặc hữu chỉ có tại Việt Nam. Ảnh: Đỗ Doãn Hoàng.
Gần trưa, khi cả đoàn đã như tuyệt vọng và bắt đầu thầm trách cái hành trình nhọc nhằn mình đang liều lĩnh tham gia, thì: bất chợt, tiếng bộ đàm rì rầm vang lên từ ba lô của anh Đán Văn Khoan - người đã hơn 20 năm liên tục, kỳ công, tâm huyết theo dấu từng bước chân đàn voọc mũi hếch.
“Nó đang ăn hoa nghiến…”
Chúng tôi lập tức chia thành từng toán nhỏ, bám theo những người hướng dẫn. Có người cố tình “lộ mặt”, tạo sự ồn ào nho nhỏ từ xa để thu hút sự chú ý, để khéo léo định hướng cho đàn voọc (vốn rất cảnh giác) phải di chuyển sang phía đối diện. Nơi các ống kính của nhóm chúng tôi đã mai phục sẵn.
Và rồi… vài cá thể của loài linh trưởng quý ấy thấp thoáng hiện ra.
Không rõ ràng, không ầm ĩ, không vẫy gọi, chỉ là vài cái bóng mờ nhòe trong tán lá cao vút. Những chấm xám trắng chuyển động chậm rãi như làn khói toả trong gió rừng. Dưới đất, chúng tôi ngẩng cổ căng mắt nhìn xuyên qua lớp tán nghiến dày, nhưng thứ nhìn thấy chỉ là ảo ảnh của chuyển động, lẫn trong sương và lớp lá dày.
“Là voọc mũi hếch đấy…”, ai đó khẽ khàng, thì thầm qua bộ đàm, như sợ tiếng người sẽ làm rơi mất khoảnh khắc quý hiếm này.

Voọc mũi hếch đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Ảnh: Đỗ Doãn Hoàng.
Từ dưới đất, khó để có thể thấy rõ mặt voọc mũi hếch. Không rõ cặp môi dày, cũng chẳng phân biệt nổi con đực oai vệ hay con cái đang bảo bọc lũ voọc con. Tất cả chỉ là sự mường tượng. Những bóng mờ ẩn hiện giữa tầng lá cao chót vót, nơi hoa nghiến trắng vừa bung nở như những đốm sáng giữa nền rừng lá xanh và mây trời trắng xoá…
Một bài toán khó và nhiều nỗi lo
Để có được sự sum vầy của đàn linh trưởng “chỉ Việt Nam mới có, chỉ Khau Ca mới có” kể trên, phải kể đến công sức hơn 20 năm cực nhọc, đầy tâm huyết của các cán bộ trong và ngoài nước. Cách đây chưa lâu lắm, nhiều cán bộ bảo vệ rừng Khau Ca hiện nay (như anh Đán Văn Khoan) đều là những lâm tặc khét tiếng, bắn giết, ăn thịt voọc mũi hếch hết sức nhẫn tâm. Khi dự án triển khai, họ khởi tố nhiều đối tượng xâm hại rừng và động vật rừng ở Khau Ca, thu hàng trăm khẩu súng tự chế của thợ săn. Thậm chí, nhiều cánh rừng rộng lớn ở phía Bắc Việt Nam ta, như khu vực Na Hang, Lâm Bình, Quản Bạ… vốn có sự hiện diện (được ghi nhận bằng ảnh và tài liệu nghiên cứu rõ ràng) của nhiều đàn voọc mũi hếch. Chỉ vài năm trước, voọc mũi hếch vẫn tồn tại vài đàn ở Quản Bạ, giáp biên giới Việt Trung.
Nhưng, hiện nay!
Tất cả các khu vực kể trên, các đàn voọc mũi hếch đã biến mất. Hàng chục năm qua, không ai ghi nhận được bất cứ cá thể voọc mũi hếch nào ở Na Hang, Lâm Bình (tỉnh Tuyên Quang) nữa. Chỉ duy nhất các cánh rừng của Khau Ca là còn hơn 200 cá thể voọc mũi hếch.
Vậy là: nhiều đàn voọc mũi hếch đã bị xoá sổ khỏi sự ghi nhận của con người trong nhiều năm, nguy cơ loài này bị tận diệt do môi trường sống bị tàn phá, thay đổi, do việc bảo vệ không thường xuyên liên tục… vẫn còn hiện hữu. Chỉ một chút lơ là, mất cảnh giác, những cá thể voọc mũi hếch cuối cùng của loài người, vẫn có thể bị tuyệt diệt.
Thế là, trên đường trở về, tôi bước chậm hơn. Không phải vì kiệt sức sau chuỗi ngày leo núi xa xôi hiểm trở, mà bởi trong tôi có điều gì đó đang dần lắng xuống, một cảm giác tiếc nuối cứ lặng lẽ như tiếng rừng rơi đều trên những tán lá nghiến thẫm xanh. Một nỗi lo và nhiều bài toán khó, chưa có lời giải.
Tôi tự hỏi: “Nếu một ngày, những cánh rừng này không còn cảnh chuyền cành, nô đùa của những đàn voọc mũi hếch ngộ nghĩnh và quý hiếm, liệu nơi đây có còn được coi là một “không gian rừng” bảo tồn theo đúng nghĩa? Linh hồn của những cánh rừng quý của Khau Ca, liệu có còn không?

Bảo vệ voọc mũi hếch là gìn giữ một phần máu thịt của núi rừng linh thiêng, là giữ được sự cân bằng của cả hệ sinh thái. Ảnh: Đỗ Doãn Hoàng.
Chuyến đi khép lại, nhưng câu hỏi thì vẫn còn bỏ ngỏ, dành cho tất cả người chúng ta. Bảo vệ voọc mũi hếch không chỉ là bảo vệ một loài linh trưởng quý hiếm, đặc hữu của Việt Nam, mà còn là gìn giữ một phần máu thịt của núi rừng linh thiêng, là giữ được sự cân bằng của cả hệ sinh thái, yếu tố sống còn cho cả Trái đất này. Và do thế, cũng chính là bảo vệ chính tương lai của con người.
Một chuyên gia từng trăn trở nói: chúng ta cần nhiều hơn những hành động từ cơ quan hữu trách, từ cộng đồng, từ du khách và từ tất cả các thế hệ người trẻ đang và sẽ yêu rừng, mê núi, thượng tôn thiên nhiên hoang dã. Hãy đi, hãy thấy; và hãy gìn giữ. Bởi rừng vẫn còn đó, nhưng sự sống trong rừng thì khi nào cũng mong manh; và trong thời buổi mới này, rừng đang mong manh hơn bao giờ hết.