Thủy sản là một trong bốn ngành quan trọng nhất của kinh tế biển
Với Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 9/2/2007 về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, ngành thủy sản (khai thác và chế biến) chính thức được xếp vào nhóm các ngành kinh tế biển quan trọng, cùng với khai thác và chế biến dầu khí; kinh tế hàng hải; du lịch biển và kinh tế hải đảo.
Một thời gian sau, du lịch được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn và trên thực tế sự sắp xếp thứ tự này không còn được nhắc đến rõ ràng nữa. Tuy vậy, thủy sản vẫn là một trong bốn ngành kinh tế biển quan trọng.

TS Tạ Quang Ngọc, nguyên Bộ trưởng Bộ Thủy sản, say sưa chia sẻ về thủy sản và nghề cá Việt Nam. Ảnh: Hồng Thắm.
"Thủy sản xứng đáng được coi là một ngành hàng lớn và tiên tiến ở nước ta, nhưng không chỉ dừng ở đó, đây còn là một lĩnh vực kinh tế - kỹ thuật".
TS Tạ Quang Ngọc,
nguyên Bộ trưởng Bộ Thủy sản
Du lịch, trong đó có du lịch biển hơn thập kỷ qua đã phát triển mạnh, gắn liền với sự phát huy những giá trị thiên nhiên và lịch sử mang đậm yếu tố văn hóa của đất nước. Có thể nói, đây là ngành tận dụng tốt các lợi thế để tạo ra giá trị kinh tế đáng kể, góp phần làm thay đổi cấu trúc lao động ven biển và hải đảo.
Dầu khí hiện nay cũng là ngành rất quan trọng, mang lại giá trị kinh tế lớn, nhưng lại là ngành dựa vào nguồn tài nguyên hóa thạch không tái tạo được. Hiện nay, năng lượng hóa thạch đang gặp phải những vấn đề lớn trong bối cảnh gắt gao của lộ trình thực hiện cách mạng xanh. Tuy nhiên nhu cầu sản phẩm dầu khí vẫn lớn, thương mại dầu khí quốc tế vẫn sôi động.
Giao thông biển hay kinh tế hàng hải, hiện nay cũng đã được quan niệm khác trước rất nhiều. Người ta không chỉ nói đến công nghiệp đóng tàu hay các tuyến vận tải, mà chú trọng nhiều hơn đến vai trò của logistics trong nền kinh tế thị trường hội nhập. Điều này bao gồm cả hoạt động từ bờ ra biển, từ Việt Nam ra thế giới; giữ vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng chung cũng như từng ngành hàng cụ thể. Nhờ đó, giao thông biển tạo ra sự kết nối giữa các quốc gia ở mức độ rộng lớn hơn, đồng thời gắn kết chặt chẽ với các loại hình vận tải khác như đường bộ, đường sắt, hàng không…
Đến Nghị quyết 36-NQ/TW năm 2018 của Ban Chấp hành Trung ương về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, sau khi tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, nội dung đã được thu hẹp từ một chiến lược biển toàn diện sang chiến lược phát triển kinh tế biển bền vững. Điều này cho thấy cách tiếp cận hẹp hơn và đã đi sâu hơn theo hướng bền vững, đặc biệt là trong việc nhìn nhận rõ vấn đề quy hoạch không gian biển và khai thác thế mạnh của biển theo hướng tổng hợp.
Biển cần được coi là nền tảng để phát triển nông nghiệp xanh bền vững
Giải pháp tổng thể để trung hòa carbon, tiến tới phát thải ròng carbon bằng không (net zero) là: Một mặt giảm thiểu các hoạt động kinh tế phát sinh khí nhà kính, phần lớn là CO2; mặt khác, như lâu nay, có thể phát triển trồng rừng và tới đây, phát huy tiềm năng trung hòa carbon của biển. Cơ chế thương mại tín chỉ carbon trong một ngành hay giữa các ngành cần thực hiện rộng rãi.
Đến đây, tôi lại nhớ tới hoạt động nhượng bán các quota (hạn ngạch) đánh cá ở châu Âu thịnh hành cuối thế kỷ XX. Sự nhượng bán này thực hiện dựa vào việc áp dụng khái niệm quota có thể chuyển nhượng (Individual Transferable Quota, viết tắt là ITQ) thời gian đó.
Đại dương hấp thụ khoảng 30% lượng CO2 thải ra từ hoạt động của con người, giúp làm giảm đáng kể lượng khí nhà kính trong khí quyển. Vì vậy, biển không chỉ là nơi khai thác tài nguyên tái tạo và không tái tạo, mà cũng là một “vựa hấp thụ và trung hòa” carbon khổng lồ, giúp thực hiện hiệu quả và khả thi mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính nói chung và CO2 nói riêng. Yếu tố này phải được xem là quan trọng và phải tính đến ngay trong phát triển kinh tế biển khi nghĩ về chỉ tiêu net zero sau 20 năm nữa.

Biển không chỉ là nơi khai thác tài nguyên tái tạo và không tái tạo, mà cũng là một “vựa hấp thụ và trung hòa” carbon khổng lồ. Ảnh: Duy Học.
Vì vậy, bên cạnh việc khai thác đi đôi với bảo vệ tài nguyên biển, giữ gìn tính đa dạng sinh học, tránh làm biển ô nhiễm, cần có những hoạt động hữu hiệu để vùng biển đặc quyền kinh tế (EEZ) trên 1 triệu km2 của nước ta, là địa bàn rộng lớn, có giá trị thiết thực trong việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng xanh của đất nước. Những yếu tố đó cần được tính toán trong chiến lược bảo vệ môi trường nói chung và của Bộ Nông nghiệp và Môi trường nói riêng. Một cách tổng thể, biển cần được coi là nền tảng để phát triển nông nghiệp xanh bền vững.
Những năm tới, cần kết hợp việc xây dựng các trung tâm kinh tế biển đa ngành, các trung tâm nghề cá lớn gắn với ngư trường trọng điểm và phát triển nuôi biển (theo Dự thảo văn kiện trình Đại hội Đảng lần thứ XIV) với việc xúc tiến trồng hoặc cải tạo những vạt cây xanh biển như rừng ngập mặn, các vạt cỏ biển (sea grass meadows), làm giàu phù du và mở mang các dự án trồng và chế biến sản phẩm rong biển sẽ giúp tăng đáng kể khả năng trung hòa carbon từ biển thông qua quá trình quang hợp.
Gắn kết giữa bờ và biển có ý nghĩa đặc biệt lớn
Trước hết, tôi muốn nhắc đến vấn đề quy hoạch không gian biển. Một việc lớn đã được nêu ra từ lâu, được soạn thảo và lấy ý kiến nhiều lần, nhưng đến nay vẫn chưa thấy đi vào thực tiễn. Mỗi ngành kinh tế biển hay gắn với biển vẫn hoạt động riêng rẽ, thiếu sự đồng điệu và hợp tác.
Gắn kết giữa bờ và biển là một mối quan hệ hữu cơ có ý nghĩa đặc biệt lớn. Chúng ta thường hay nghe đến vấn đề khai thác quá mức hoặc sử dụng phương tiện/phương pháp đánh bắt bị cấm, làm suy kiệt nguồn lợi và gây tổn hại lớn cho các hệ sinh thái biển. Đó là lỗi của ngành thủy sản, hiệu lực thấp của công tác quản lý nhà nước về thủy sản.
Tuy nhiên, nhiều vi phạm và tác động xấu đến môi trường sinh thái biển lại bắt nguồn từ đất liền, từ ngành khác, lĩnh vực khác. Thực tế, trong xây dựng và triển khai các dự án phát triển công nghiệp và đô thị hóa vùng ven biển những năm qua diễn ra không ít những tác hại mà sự đánh giá tác động môi trường (ĐTM) có thiếu sót.
Theo nhiều nguồn tư liệu, đến 90% nguồn lợi thủy sản sống được bắt nguồn từ các vùng cửa sông. Các khu vực rừng ngập mặn, đầm phá và các vùng đất ngập nước ven biển có vai trò quan trọng bảo đảm yêu cầu da dạng sinh học. Tới nay những điều kiện để tái tạo nguồn lợi và duy trì tính đa dạng sinh học như thế đang gặp phải một số ảnh hưởng nghiêm trọng.

TS Tạ Quang Ngọc cho hay: "Yếu tố kinh tế - kỹ thuật đặc trưng của ngành thủy sản dường như ít được quan tâm đến". Ảnh: Hồng Thắm.
Hiện nay, khi nhắc đến thủy sản, người ta thường nói đến thành công trong chế biến và xuất khẩu, với những con số giá trị xuất khẩu ấn tượng mà Việt Nam tự hào trong nhiều năm qua.
Tuy nhiên, bức tranh xuất khẩu thường nổi trội và làm lu mờ nhiều khía cạnh khác, đặc biệt là các hoạt động trên biển, công tác quản lý ngoài biển. Điều này cho thấy, dù thủy sản đóng góp rất lớn cho kinh tế, nhưng trong quản lý nhà nước và trong nhận thức xã hội, ngành này vẫn chỉ được xem là một ngành hàng, như các sản phẩm khác: Lúa gạo, rau quả, cà phê, cao su... Vì thế, yếu tố kinh tế - kỹ thuật đặc trưng của ngành thủy sản dường như ít được quan tâm đến.
Thủy sản xứng đáng được coi là một ngành hàng lớn và tiên tiến ở nước ta, nhưng không chỉ dừng ở đó - đây còn là một lĩnh vực kinh tế - kỹ thuật, bao gồm toàn bộ đặc trưng của nghề cá xét theo quy mô hệ thống. Hệ thống nghề cá Việt Nam là một phần của hệ thống nghề cá thế giới.
Dù luôn được coi là quan trọng, nhưng chừng nào thủy sản vẫn chỉ được xem như một ngành hàng đơn thuần, chừng đó sẽ khó bứt phá để góp phần đưa đất nước trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển, đồng thời khó đạt mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Nhìn nhận IUU phải là vì “ích nước lợi nhà”
"Với nghề biển, nghề nghiệp phải gắn liền với trách nhiệm. Muốn vậy, trong quá trình trang bị tri thức và kỹ năng cho ngư dân, không thể coi nhẹ việc đưa tinh thần nghề cá có trách nhiệm vào ý thức và kỹ năng công việc".
TS Tạ Quang Ngọc,
nguyên Bộ trưởng Bộ Thủy sản.
Vấn đề hay có thể gọi khái niệm "khai thác thủy sản bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (IUU)" chỉ thực sự được dư luận trong nước chú ý từ năm 2017, khi Liên minh châu Âu (EU) cảnh báo “thẻ vàng” đối với thủy sản Việt Nam. Tuy nhiên, khái niệm này đã có rất sớm trong cộng đồng nghề cá thế giới.
Ta hãy bắt đầu câu chuyện từ năm 1995, khi Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO) ban hành Bộ Quy tắc ứng xử nghề cá trách nhiệm (CCRF). Việt Nam tham gia CCRF ngay từ đầu, là thành viên tích cực của FAO, cam kết hành động để sớm đưa nó vào hiệu lực trong bối cảnh những khác biệt rất lớn của nghề cá các nước.
Trong khuôn khổ của CCRF, một kế hoạch hành động quốc tế của FAO nhằm ngăn chặn, răn đe và xóa bỏ hoạt động đánh bắt IUU, được Hội đồng FAO thông qua vào tháng 6/2001. Tuy nhiên, tại Hội nghị Reykjavik (Iceland) diễn ra từ ngày 1 - 4/10/2001 về “Nghề cá có trách nhiệm trong hệ sinh thái biển”, nội dung quan trọng liên quan đến việc ngăn chặn và xóa bỏ IUU, dù đã được dự thảo trước đó, đã không đạt được sự đồng thuận và buộc phải tạm gác lại.

Rõ ràng, khi đã cam kết quốc tế, chúng ta cần một lộ trình bài bản để giải quyết vấn đề IUU. Ảnh: Hồng Thắm.
Sau đó, EU đã xây dựng kế hoạch riêng để thực hiện các cam kết đã thống nhất ở cấp độ quốc tế và Kế hoạch hành động của Ủy ban châu Âu (EC) nhằm xóa bỏ hoạt động đánh bắt IUU đã được công bố vào tháng 5/2002. Năm 2008, EU thông qua Quy định số 1005/2008 với cơ chế cảnh báo “thẻ vàng”, “thẻ đỏ”, và chính thức áp dụng từ ngày 1/1/2010.
Tôi còn nhớ, cũng năm 2008, EU cử một nhóm chuyên gia vào Việt Nam, làm việc về IUU với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Từ tháng 6/2011, thuật ngữ IUU bắt đầu được nhấn mạnh và nhắc nhiều tại các diễn đàn quốc tế như một tiêu chuẩn toàn cầu trong quản lý nghề cá, gắn với yêu cầu truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững. Năm 2012, IUU trở thành thông điệp lớn về nghề cá có trách nhiệm, với EU đóng vai trò tiên phong trong thực thi.
Việt Nam, cũng như nhiều quốc gia khác, có nghề cá quy mô nhỏ, đa loài. Đây là đặc trưng của cộng đồng nghề cá truyền thống trên thế giới, vốn chiếm khoảng 30% sản lượng cá biển toàn cầu. Vì vậy, việc loại bỏ IUU cần là một quá trình chuyển đổi phương thức vận hành và quản lý nghề cá.
Rõ ràng, khi đã cam kết quốc tế, chúng ta cần một lộ trình bài bản để giải quyết vấn đề IUU. Tôi cho rằng đó cũng là vì lợi ích lâu dài cho nghề cá Việt Nam vươn lên hiện đại và bền vững theo chủ trương “một nghề cá tăng trưởng xanh”.
Tôi cũng có lúc nghĩ rằng, với sự quyết liệt để gỡ “thẻ vàng”, chúng ta quên mất bản chất việc “gỡ bỏ IUU”. Cần thay đổi cách tiếp cận, đặt lợi ích của nghề cá quốc gia lên hàng đầu. Mục tiêu của chúng ta tiến tới xóa bỏ IUU là giúp nghề cá Việt Nam chuyển đổi theo hướng tiên tiến hơn, phù hợp với chính sách tăng trưởng xanh và bền vững.
Nuôi biển giúp giảm tải cho lĩnh vực khai thác
Nuôi biển để thay thế một phần cho khai thác là chiến lược hướng tới phát triển bền vững trên thế giới và Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó.
Hiện nay, nuôi biển của nước ta chủ yếu tập trung ở vùng bờ và ven bờ; nuôi ở biển sâu đã có nhưng còn rất ít. Vấn đề đặt ra là cơ chế giao mặt nước biển, cũng như chính sách khuyến khích đầu tư. Khi mở rộng nuôi từ bờ ra biển, hạ tầng cho sản xuất và tiêu thụ cũng cần được quan tâm.

Nuôi biển để thay thế một phần cho khai thác là chiến lược hướng tới phát triển bền vững trên thế giới và Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó. Ảnh: Duy Học.
Quan trọng hơn, để phát triển nuôi biển bền vững, phải ưu tiên điều tra nghiên cứu các yếu tố sinh học, đảm bảo bền vững hệ sinh thái khu vực nuôi và gắn chặt với bảo vệ môi trường.
Phát triển kinh tế biển, từ khai thác có trách nhiệm đến nuôi biển bền vững, không chỉ để làm giàu hôm nay mà còn để gìn giữ cho mai sau. Khi bờ và biển cùng hòa chung nhịp phát triển, khi mỗi tấn hải sản xuất ra đều gắn với trách nhiệm môi trường, khi mỗi ngư trường được bảo vệ như một phần lãnh thổ thiêng liêng, đó sẽ là lúc Việt Nam thực sự trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển và vững bước trên con đường phát triển xanh.
TS Tạ Quang Ngọc
Nguyên Bộ trưởng Bộ Thủy sản