| Hotline: 0983.970.780

Nông nghiệp xanh cần dữ liệu và thể chế

Thứ Năm 04/06/2026 , 17:17 (GMT+7)

Chuyển đổi xanh chỉ hiệu quả khi khoa học công nghệ, dữ liệu và chính sách môi trường được triển khai đồng bộ từ đồng ruộng đến quản lý nhà nước.

Sự phát triển mạnh mẽ của nông nghiệp Việt Nam trong nhiều năm qua đã góp phần bảo đảm an ninh lương thực, thúc đẩy xuất khẩu và nâng cao đời sống người dân nông thôn. Tuy nhiên, phía sau những thành tựu đó là áp lực ngày càng lớn từ biến đổi khí hậu, suy thoái tài nguyên, ô nhiễm môi trường và yêu cầu giảm phát thải.

Nông nghiệp xanh hướng tới giảm đầu vào, tăng hiệu quả đầu ra thông qua tối ưu giống, canh tác, nước, dinh dưỡng, đất đai và phát thải. Ảnh: Lan Chi.

Nông nghiệp xanh hướng tới giảm đầu vào, tăng hiệu quả đầu ra thông qua tối ưu giống, canh tác, nước, dinh dưỡng, đất đai và phát thải. Ảnh: Lan Chi.

Tại Hội thảo khoa học quốc gia “Môi trường nông nghiệp, nông thôn và phát triển bền vững” lần thứ 3 do Học viện Nông nghiệp Việt Nam tổ chức vào sáng 4/6, nhiều nhà khoa học đã chung nhận định rằng nông nghiệp xanh không thể chỉ dựa vào các giải pháp kỹ thuật đơn lẻ mà cần được xây dựng trên nền tảng dữ liệu, công nghệ và thể chế phù hợp.

Thiếu dữ liệu, khó phát triển nông nghiệp thông minh

Theo PGS.TS. Trần Minh Tiến, Phó Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, ngành nông nghiệp đang đứng trước áp lực rất lớn khi vừa phải duy trì tăng trưởng, vừa phải thực hiện mục tiêu phát triển xanh và bền vững.

Ông cho biết năm 2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đặt mục tiêu tốc độ tăng trưởng GDP toàn ngành năm 2026 đạt 3,7%, tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 73-74 tỷ USD. Trong bối cảnh diện tích đất canh tác bình quân chỉ khoảng 1.000 m²/người, bài toán đặt ra là phải tối ưu hóa mọi nguồn lực sản xuất.

PGS.TS. Trần Minh Tiến, Phó Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam chỉ ra điểm nghẽn lớn trong quá trình ứng dụng công nghệ số. Ảnh: Mai Đan.

PGS.TS. Trần Minh Tiến, Phó Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam chỉ ra điểm nghẽn lớn trong quá trình ứng dụng công nghệ số. Ảnh: Mai Đan.

Theo ông Tiến, tư duy cốt lõi của nông nghiệp xanh hiện nay là “ít đầu vào hơn nhưng tạo ra nhiều đầu ra hơn”. Điều đó đòi hỏi phải tối ưu từ giống cây trồng, hệ thống canh tác, sử dụng nước, dinh dưỡng cho đến quản lý đất đai và phát thải.

Tuy nhiên, vị chuyên gia cũng thẳng thắn chỉ ra điểm nghẽn lớn trong quá trình ứng dụng công nghệ số. Dù trí tuệ nhân tạo (AI) và Internet vạn vật (IoT) được nhắc đến rất nhiều nhưng Việt Nam vẫn thiếu nghiêm trọng dữ liệu nền và các nghiên cứu cơ bản phục vụ xây dựng mô hình dự báo.

Đồng quan điểm về vai trò của công nghệ, ông Nguyễn Bách Tùng, Phó Giám đốc Trung tâm Động lực học Thủy khí Môi trường, Công ty Khoa học tự nhiên - Trường Đại học Khoa học tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho biết các hệ thống cảm biến IoT hiện nay đã cho độ chính xác khoảng 70 - 80% khi theo dõi dinh dưỡng đất và sinh trưởng cây trồng. Kết hợp với AI, các hệ thống này có thể giám sát sâu bệnh, đánh giá tình trạng cây trồng và đưa ra khuyến nghị canh tác theo thời gian thực.

Sáng 4/6, Học viện Nông nghiệp Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học quốc gia 'Môi trường nông nghiệp, nông thôn và phát triển bền vững' lần thứ 3. Ảnh: Mai Đan.

Sáng 4/6, Học viện Nông nghiệp Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học quốc gia “Môi trường nông nghiệp, nông thôn và phát triển bền vững” lần thứ 3. Ảnh: Mai Đan.

Ở góc độ khác, GS.TS. Võ Chí Mỹ, Phó Chủ tịch Hội Trắc địa - Bản đồ - Viễn Thám Việt Nam cho rằng công nghệ địa không gian, ảnh vệ tinh đa phổ và thiết bị bay không người lái đang mở ra khả năng phát triển nông nghiệp chính xác đến từng mét vuông. Các công cụ này có thể xác định chính xác khu vực thiếu đạm, lân hay kali để bón phân theo nhu cầu thực tế thay vì áp dụng đồng loạt trên toàn cánh đồng.

Trong khi đó, PGS.TS. Doãn Hà Phong, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Môi trường, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển cho rằng mọi giải pháp công nghệ đều phải đặt trong bối cảnh những thách thức ngày càng phức tạp của biến đổi khí hậu.

Ông dẫn chứng Đồng bằng sông Cửu Long đang phải đối mặt đồng thời với nước biển dâng, sụt lún đất, xâm nhập mặn và suy giảm phù sa. Đặc biệt, tốc độ sụt lún tại nhiều khu vực từ 1 - 3 cm mỗi năm còn lớn hơn tốc độ dâng của mực nước biển. Theo ông, đây không còn là “tác động kép” mà là những tác động đa chiều đòi hỏi cách tiếp cận tổng hợp và liên ngành để tìm ra giải pháp thích ứng hiệu quả.

Khoa học công nghệ phải đi cùng đổi mới quản lý

Bên cạnh câu chuyện công nghệ, nhiều chuyên gia cho rằng quá trình chuyển đổi xanh sẽ khó đạt kết quả nếu thiếu các cơ chế quản lý phù hợp.

Theo TS. Dương Thị Thanh Xuyến, giảng viên cao cấp Khoa Môi trường, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, dự thảo sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường đã thể chế hoá quan điểm coi chất thải là tài nguyên. Ảnh: Mai Đan.

Theo TS. Dương Thị Thanh Xuyến, giảng viên cao cấp Khoa Môi trường, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, dự thảo sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường đã thể chế hoá quan điểm coi chất thải là tài nguyên. Ảnh: Mai Đan.

TS. Dương Thị Thanh Xuyến, giảng viên cao cấp Khoa Môi trường, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội cho biết dự thảo sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường đã thể chế hoá quan điểm coi chất thải là tài nguyên. Một trong những điểm mới quan trọng là bổ sung quy định về chuyển đổi số trong quản lý chất thải theo hướng yêu cầu các tổ chức, cá nhân phát sinh, thu gom, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải cung cấp, cập nhật dữ liệu điện tử về chất thải vào hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu môi trường để tiến tới quản lý chất thải trực tuyến.

Theo bà, dự thảo luật cũng giao quyền chủ động cho chính quyền địa phương trong việc quyết định phân loại cụ thể chất thải rắn sinh hoạt, phù hợp với điều kiện thực tiễn của chính quyền địa phương; hoàn thiện các quy định thúc đẩy sử dụng chất thải làm nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu thay thế thông qua phân nhóm chất thải để quản lý phù hợp theo tính chất, vừa thúc đẩy tái sử dụng, tái chế, vừa bảo đảm yêu cầu bảo vệ môi trường; quy định về quản lý, sử dụng vật liệu, sản phẩm được sản xuất từ chất thải sau xử lý, tái chế, tái sử dụng nhằm thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và phát triển ngành công nghiệp môi trường.

PGS.TS. Trần Trọng Phương, Trưởng Khoa Tài nguyên và Môi trường, Học viện Nông nghiệp Việt Nam phát biểu tại hội thảo. Ảnh: Mai Đan.

PGS.TS. Trần Trọng Phương, Trưởng Khoa Tài nguyên và Môi trường, Học viện Nông nghiệp Việt Nam phát biểu tại hội thảo. Ảnh: Mai Đan.

Từ góc độ nghiên cứu và đào tạo, PGS.TS. Trần Trọng Phương, Trưởng Khoa Tài nguyên và Môi trường, Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng môi trường và khoa học đất đang giữ vai trò ngày càng quan trọng đối với chất lượng nông sản và sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp. Theo ông, các kết quả nghiên cứu cần được cụ thể hóa thành khuyến nghị chính sách và giải pháp thực tiễn để hỗ trợ quá trình chuyển đổi xanh.

GS.TS.NGND Đặng Thị Kim Chi cũng nhìn nhận khu vực nông thôn đang đối mặt với nhiều thách thức mới khi hệ thống pháp luật và mô hình chính quyền địa phương có những thay đổi lớn. Bên cạnh đó là các vấn đề môi trường tồn tại từ nhiều năm như đốt phụ phẩm nông nghiệp, lạm dụng hóa chất bảo vệ thực vật, ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm làng nghề và sự gia tăng của rác thải điện tử.

Theo bà, các giải pháp bảo vệ môi trường sẽ chỉ phát huy hiệu quả nếu phù hợp với điều kiện thực tế của người dân nông thôn. Những công nghệ xử lý cần đơn giản, chi phí thấp, dễ vận hành và tiết kiệm năng lượng thay vì quá phức tạp hoặc đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao.

GS.TS.NGND Đặng Thị Kim Chi đánh giá khu vực nông thôn đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Ảnh: Mai Đan.

GS.TS.NGND Đặng Thị Kim Chi đánh giá khu vực nông thôn đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Ảnh: Mai Đan.

Các ý kiến tại hội thảo cho thấy một điểm chung: nông nghiệp xanh không chỉ là câu chuyện của cảm biến, AI hay các mô hình sản xuất hiện đại. Đó còn là quá trình xây dựng hệ sinh thái gồm dữ liệu, khoa học công nghệ, chính sách và sự tham gia của người dân. Khi những yếu tố này được kết nối đồng bộ, chuyển đổi xanh mới có thể trở thành động lực giúp nông nghiệp Việt Nam phát triển bền vững trong dài hạn.

Xem thêm
Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ XIV

Sáng 4/6, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2026 - 2031.

Nông nghiệp xanh cần dữ liệu và thể chế