Niềm tin son sắt. Ảnh: TL.
Những vần thơ dâng Đảng cộng sản đầu tiên trên thế giới được công chúng chú ý là tác phẩm của thi sĩ Louis Aragon (1897-1982). Đứng vào hàng ngũ những người cộng sản Pháp từ năm 1927, Louis Aragon bày tỏ lý tưởng cách mạng bằng bài thơ nổi tiếng có tựa “Du poète à son Parti”.
Với sự đồng cảm sâu sắc, nhà thơ Tố Hữu đã chuyển ngữ bài thơ của Louis Aragon ra tiếng Việt có tựa đề “Nhà thơ tặng Đảng của mình” với những vần thơ rưng rưng xúc động: “Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng/ Trước như trẻ thơ tôi nào biết được/ Máu tôi đỏ và tim tôi yêu nước/ Tôi chỉ biết là đêm tối mênh mông…”. “Đảng cho tôi huyết khí anh hùng xưa/… Đã nghe trong từng chữ tiếng gươm khua”. Và “Đảng cho tôi màu sắc nước non nhà/ Đảng ta ơi, cảm ơn Người dạy dỗ/ Từ đấy, lòng tôi sướng vui đau khổ/ Và tình yêu căm giận hóa lời ca”.
Từ bản dịch ấy, nhạc sĩ Phạm Tuyên đã phổ nhạc thành ca khúc “Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng” được hàng triệu người yêu mến đón nhận.
Tự hào, tin yêu, biết ơn..., đó có lẽ là dòng cảm xúc chung của các nhà thơ khi viết về Đảng cộng sản, phản ánh đậm nét trong các tác phẩm thi ca của các nhà thơ Việt Nam.
Nhà thơ Tố Hữu (1920-2002) từng giữ nhiều trọng trách của Đảng. Từ khi đã “say mùi hương chân lý”, Tố Hữu coi thi ca là một lợi khí đấu tranh cách mạng. Năm 1960, ông có bài thơ dài “Ba mươi năm đời ta có Đảng”, đúc kết lịch sử Đảng ở tầm cao nghệ thuật, hào sảng và đắm say: “Đảng ta đó trăm tay nghìn mắt/ Đảng ta đây xương sắt da đồng/ Đảng ta muôn vạn công nông/ Đảng ta muôn vạn tấm lòng niềm tin/ Đảng ta Mác - Lênin vĩ đại/ Lại hồi sinh trả lại cho ta/ Trời cao, đất rộng bao la/ Bát cơm, tấm áo, hương hoa, hồn người”.
Tri ân về chặng đường gian khổ, hy sinh vì đất nước, vì dân tộc, Tố Hữu viết: “Tay Đảng rèn lực lượng muôn dân/ Chín năm kháng chiến thánh thần/ Gậy tầm vông đánh tan quân bạo tàn”. Ngợi ca phẩm chất cống hiến, đức hy sinh của những người cộng sản, nhà thơ cũng không quên nhắc nhở: “Đã rằng vì Nước vì Dân/ Nước Dân còn khổ thì thân sướng gì?”. Nhưng trên hết, nói về Đảng, trong thơ ông luôn sáng lên tấm lòng của hàng triệu đảng viên kiên trung: “Sống cùng Đảng, chết không rời Đảng/ Tấm lòng son chói sáng ngàn thu”.
Lớp lớp những người con ưu tú ấy đã dũng cảm hiến dâng cả cuộc đời cho độc lập tự do của Tổ quốc. Trong niềm biết ơn vô hạn, nhà thơ thốt lên: “Hỡi những trái tim không thể chết/ Chúng tôi đi theo vết các anh/ Những hồn Trần Phú, vô danh/ Sóng xanh biển cả, cây xanh ngút ngàn”.
Thơ Tố Hữu tràn đầy tinh thần lạc quan và niềm tin vững chãi vào sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo; Hình tượng Đảng quang vinh và Bác Hồ kính yêu luôn quyện hòa làm một, trở thành lẽ sống, lý tưởng và ước mơ cho những gì cao đẹp nhất trên đời, thể hiện rõ trong "Ba mươi năm đời ta có Đảng": “Ba mươi năm bước đường qua/ Đời ta có Bác xông pha dẫn đường/ Người đi trước, nghìn muôn sương tuyết/ Dắt dìu dân, nước Việt Nam ta/ Bạc phơ mái tóc người Cha/ Ba mươi năm Đảng nở hoa tặng Người”.
Nhà thơ Tố Hữu có những vần thơ viết về Đảng gây xúc động lòng người. Ảnh: TL.
Vẫn trong mạch tri ân ấy, trong “Bài ca xuân 1961”, nhà thơ Tố Hữu nồng nhiệt: “Đảng cho ta trái tim giàu/ Thẳng lưng mà bước, ngẩng đầu mà bay”. Để rồi tiếp nối nguồn mạch, "Với Đảng, mùa xuân" viết ngay sau Đại hội IV của Đảng thành công, Tố Hữu thiết tha: “Đảng dạy tôi biết ngẩng đầu đứng dậy/ Vững hai chân, đứng thẳng làm người”; “Cuộc sống ấm ân tình, với Đảng/ Lớn khôn chung, một sẽ hóa thành trăm/ Đời rạng rỡ, mỗi con người tự sáng”. Nhà thơ cũng không quên thể hiện cảm hứng bất tận và tình yêu lớn khi nói về Bác Hồ - người sáng lập, rèn luyện và dìu dắt Đảng ta: “Bác vẫn đời đời hiển hiện/ Người vẫn hằng dìu dắt chúng con đây”.
Viết về Đảng về Bác với những vần thơ nhiệt huyết, thế hệ Tố Hữu còn có nhiều gương mặt thơ quen thuộc. Nhà thơ Chế Lan Viên (1920-1989) xuất hiện chói sáng từ phong trào “Thơ mới”. Trong gia tài thơ của Chế Lan Viên có bài “Kết nạp Đảng trên quê mẹ” đã trở thành bài thơ nằm lòng của bao thế hệ. Từ một trí thức đi theo cách mạng, năm 1949, trong chiến dịch Tà Cơn (Quảng Trị), nhà thơ được đứng vào hàng ngũ của Đảng, Chế Lan Viên xúc động kể: “Giã mẹ ra đi kháng chiến bốn phương trời/ Kết nạp Đảng, bỗng quay về quê mẹ”.
Vẫn là quê hương xứ sở, nhưng qua nhãn quan cách mạng của một đảng viên, mọi thứ bỗng trở nên khác lạ: “Ngày vào Đảng đất trời như đổi khác/ Những vật vô tri cũng làm rưng nước mắt/ Đá sỏi cây cằn, sao bỗng thấy thiêng liêng?”.
Trong niềm xúc động sâu xa, nhà thơ nghĩ nhiều về quê hương: “Bà con quê ta đói nghèo lam lũ/ Cuộc sống xưa như nước chảy mất dòng/ Không ai thương như cỏ nội giữa đồng…/ Con chim bỏ trời quê ta đi xứ khác/ Đất chẳng nuôi người, người không nuôi nổi đất…/ Những ruộng đói mùa những đồng đói cỏ/ Những đồi sim không đủ quả nuôi người”; nghĩ về những mất mát máu xương "dâng thành núi đọng thành cồn”; vẳng bên tai ông lời mẹ khích lệ: “Con đi đi… Từ nay con có Đảng".
Với bút pháp điêu luyện, tinh tế và đậm chất trí tuệ, quê hương, đất nước và mẹ đã kết tinh ở hình tượng Đảng lung linh, đẩy cảm xúc của nhà thơ lên cao trào với những câu thơ tuyệt đẹp: "Tôi đứng dưới cờ, đưa tay tuyên thệ/ Trên đất quê hương mang hình bóng mẹ/ Ngỡ chừng như vừa sinh lại lần đầu/ Đảng trở thành nơi cắt rốn chôn rau”.
Cùng thời Chế Lan Viên, nhà thơ Nguyên Hồ (1929-2014) ghi dấu ấn với “Bài ca dâng Đảng”. Với tất cả tấm lòng nhiệt thành của một người cầm bút, trước hết là một đảng viên, Nguyên Hồ vẫn chọn được nẻo đi riêng. Tập diễn ca với 814 câu, được cả hai tờ báo Nhân Dân và Quân đội nhân dân dành trang 2 và trang 3 để in trọn vẹn. Riêng báo Tiền Phong cho đăng tải tác phẩm này trên bốn số liên tiếp. Ngày ấy, ngoài việc được phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam, thì Tổng cục Thông tin còn cho triển khai đọc chậm trên làn sóng điện để đồng bào, đồng chí miền Nam có thể tiếp nhận được.
“Bài ca dâng Đảng” được Nhà xuất bản Phổ thông ấn hành 100.000 bản sách. Giọng thơ Nguyên Hồ lành hiền, niềm tin yêu được ông bộc bạch mộc mạc chân chất như chính con người ông: “Đời chúng ta từ khi có Đảng/ Ta theo đường cách mạng tiến lên/ Ánh hào quang Mác - Lênin/ Đảng ta mãi mãi soi trên đất nhà/ Rõ thù, rõ bạn, rõ ta/ Sắc riêng thắm sắc, hương hòa hương chung/ Dân ta theo Đảng đến cùng/ Đèo cao, suối lũ, muôn trùng quản chi/ Từng cung, từng đoạn ta đi/ Ngực cài hoa đỏ, sử ghi chữ vàng/ Cành gian khổ, trái vinh quang/ Vườn ươm thủa trước, đại ngàn hôm nay/ Từ trong thăm thẳm đêm dày/ Bốn mươi năm đã tỏa đầy ánh dương”.
Những vần thơ trên được nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát - Chủ tịch đầu tiên của Hội Nhạc sĩ Việt Nam phổ nhạc, với tựa “Từ khi có Đảng”. Và ca khúc ấy được tuyển chọn trong tập bài hát “Chào mừng Đảng Lao động Việt Nam” do Nhà xuất bản Văn hóa ấn hành năm 1970.
Trở lại với Tố Hữu, xin được dẫn đoạn kết trong bài “Với Đảng, mùa xuân” của ông để khép lại bài viết này: “Lịch sử sang trang/ Đại hội Đảng mở mùa vui. Phơi phới/ Từ chiến trường ra, ta xốc tới công trường/ Người chiến thắng là người xây dựng mới/ Anh em ơi/ Tất cả lên đường”.

























