Họa sĩ Nguyễn Phan, tên thật Phan Ngọc Nam, sinh năm 1940 tại Huế. Ông trưởng thành từ môi trường Cao đẳng Mỹ thuật Huế, một trong những cái nôi đào tạo mỹ thuật quan trọng của miền Trung. Năm 1965, ông nhận Huy chương Bạc tại một triển lãm quốc tế ở Rome với tác phẩm “Trăng thanh bình”, đây là một dấu mốc đáng chú ý trong giai đoạn đầu sự nghiệp.
Chân dung tự họa của họa sĩ Nguyễn Phan (1940-2010).
Bên cạnh hội họa, ông còn tham gia thiết kế và thực hiện một số công trình tượng đài tại Quảng Nam – Đà Nẵng như Tượng đài Vĩnh Trinh, Đài tưởng niệm Cây Cốc. Việc một họa sĩ tham gia xuyên suốt từ ý tưởng quy hoạch đến tạo hình là điều không phổ biến ở thời điểm đó.
Từ khi họa sĩ Nguyễn Phan qua đời năm 2010 đến nay, nhiều tác phẩm của ông đã được sưu tập và đánh giá khá cao trên thị trường tranh. Với hơn 30 tác phẩm sơn dầu còn lưu giữ được, gia đình họa sĩ Nguyễn Phan đã tổ chức triển lãm hồi cố với tên gọi “Những năm tháng và sắc màu hoài niệm” tại Bảo tàng Mỹ thuật Đà Nẵng từ ngày 9/5 đến 16/5 và tại Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM từ ngày 25/5 đến 31/5. Đồng thời, tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan những năm tháng và sắc màu hoài niệm” cũng được ấn hành nhân dịp này.
"Miền quê trong ký ức" của họa sĩ Nguyễn Phan.
Với tư cách giám tuyển, họa sĩ Phan Trọng Văn cho rằng, triển lãm “Những năm tháng và sắc màu hoài niệm” là dịp để công chúng tiếp cận lại một thực hành hội họa mang tính cá nhân, không ồn ào, nhưng có dấu ấn riêng trong bối cảnh mỹ thuật miền Trung giai đoạn trước.
Tranh Nguyễn Phan thiên về cấu trúc gọn, tiết chế chi tiết, nhưng giữ được độ căng trong bố cục. Màu sắc thường trầm, có xu hướng nghiêng về các gam tối, tạo cảm giác lắng và kín. Họa sĩ Nguyễn Phan luôn trăn trở sáng tạo, bứt phá, cố vượt chính mình để vươn tới cái mới trong lặng lẽ và khiêm tốn hằng có nơi ông.
"Đồi trăng" của họa sĩ Nguyễn Phan.
Đề tài trong tranh Nguyễn Phan xoay quanh cảnh và người, nhưng không đi theo hướng tả thực thuần túy. Các hình ảnh như mảng tường cũ, con thuyền, hay nhân vật nữ thường xuất hiện như những motif lặp lại, gợi về một không gian riêng, mang tính nội tâm.
Một số tác phẩm tiêu biểu của họa sĩ Nguyễn Phan có thể kể đến: “Thời gian” (1993), “Dấu chân em” (1991), “ Thành Nội” 1995, “Ly rượu trần gian” (2006), “Bến Mộng mơ”(1997), “Đêm Hương Giang” (1995).... Ở đó, yếu tố hình ảnh không dừng ở mô tả mà nghiêng về cảm nhận, có độ suy tư nhưng không phô bày.
"Vẻ đẹp cố đô Huế" của họa sĩ Nguyễn Phan.
Trong tập sách đi kèm triển lãm, một số ý kiến từ bạn bè và đồng nghiệp cho thấy cách họ nhìn về Nguyễn Phan. Họa sĩ Rừng viết về sự trở lại của ông sau một thời gian gián đoạn như một dòng chảy ký ức đứt quãng nhưng dai dẳng. Còn nhà phê bình Cung Tích Biền ghi nhận ở ông một thái độ làm nghề bền bỉ, ít ồn ào, luôn có xu hướng tự đẩy mình đi xa hơn trong khả năng của chính mình. Hội họa của Nguyễn Phan có những đặc trưng sau đây bố cục đơn giản mà chặt chẽ đối kháng trong thể tài nhưng thuần nhất ở cá tính, rặt ngôn ngữ ấn tượng, cách biểu cảm của cổ điển song thủ pháp thể hiện mới mẻ, sâu lắng, trữ tình.
Ở góc độ khác, họa sĩ Thân Trọng Dũng cho rằng, ngoài hội họa, những đóng góp trong lĩnh vực điêu khắc và tượng đài của ông cũng đáng được nhắc tới như một phần không tách rời. Riêng nhà sưu tập Gérard Chapuis nhìn nhận tranh Nguyễn Phan như một không gian có màu sắc Á Đông rõ nét, thiên về cảm giác hơn là lý giải.
"Tiến thoái lưỡng nan" của họa sĩ Nguyễn Phan.
Sinh thời, họa sĩ Nguyễn Phan quan niệm: “Thật là bất hạnh khi phải ràng buộc, gò ép vào với chất liệu và hình thức diễn đạt, kể cả điều mê tín nhằm tạo cho mình một phong cách riêng. Phong cách thì cứ nên để cho nó đến như một sự phiêu bồng từ cái không mà có. Nếu lệ thuộc vào những điều trên, chúng ta sẽ bị xô đẩy vào tập quán, mà tập quán là thủ công, và thủ công là lập đi lập lại, là khuôn mẫu không còn tính nghệ thuật.
Nghệ thuật được đặt nằm trong những giới hạn dứt khoát sẽ không gây được cảm hứng nghệ thuật khi sáng tác mà còn làm xói mòn đến hủy diệt tinh thần sáng tạo... Không gian của nghệ thuật là một không gian mênh mông màu sắc, giao hòa cùng với ánh sáng và bóng tối... là cội nguồn thiên nhiên của vũ trụ đồng thời ở đó cũng ẩn hiện một đời người ngắn ngủi nhưng nó luôn luôn chuyển biến và rất nhiều sinh động. Tất cả đó chính là môi trường và chất liệu sống... Từ đó, tôi yêu thích vẽ tranh bằng tất cả lòng say đắm của người nghệ sĩ”.

























