Kho báu hơn 1.000 GW còn bỏ ngỏ
Theo TS. Dư Văn Toán, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển, trong cuộc đua chuyển dịch năng lượng toàn cầu, Việt Nam được thiên nhiên ưu đãi. Đường bờ biển dài hơn 3.260 km, vùng đặc quyền kinh tế rộng gần một triệu km² cùng chế độ gió ổn định đã tạo nên một nguồn tài nguyên năng lượng gió khổng lồ.
TS. Dư Văn Toán - Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển kỳ vọng Việt Nam có thể xuất hiện những turbine điện gió ngoài khơi đầu tiên vào giai đoạn 2028-2029. Ảnh: Yên Thi.
Tổng công suất nguồn điện hiện nay của Việt Nam ở mức trên 90 GW, như vậy, tiềm năng điện gió được đánh giá cao gấp hơn 10 lần con số đó. Thế nhưng, lượng tài nguyên gió đã được khai thác đến nay vẫn chưa đạt 1% tiềm năng kỹ thuật.
Khoảng 5 năm trước, Ngân hàng Thế giới (WB) đánh giá Việt Nam có khoảng 600 GW tiềm năng kỹ thuật điện gió ngoài khơi - một trong những mức cao nhất khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cập nhật do Cục Khí tượng Thủy văn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với UNDP thực hiện đã nâng con số này lên tới khoảng 1.068 GW.
“Còn theo nghiên cứu của chúng tôi, sau khi loại trừ các khu vực hàng hải, luồng tuyến giao thông biển và các khu bảo tồn biển, vẫn xác định tiềm năng khai thác thực tế đạt trên 900 GW”, ông Toán cho biết.
TS. Dư Văn Toán nhấn mạnh: Các số liệu này đều thể hiện rằng Việt Nam đang sở hữu một trong những nguồn tài nguyên gió ngoài khơi lớn nhất thế giới. Xét trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam được đánh giá có chất lượng gió tốt nhất. Trên bình diện toàn cầu, Việt Nam nằm trong nhóm 5-6 quốc gia có điều kiện gió thuận lợi nhất, thuộc nhóm 10 quốc gia có tiềm năng điện gió ngoài khơi lớn và nằm trong top 20 quốc gia có tiềm năng phát triển điện gió tổng thể (bao gồm cả trên bờ và ngoài khơi).
Từ những turbine đầu tiên đến những thăng trầm của thị trường điện gió
Điện gió ở Việt Nam bắt đầu được quan tâm từ khoảng năm 2010 với dự án điện gió trên bờ tại huyện Tuy Phong (Bình Thuận cũ), công suất 30 MW, sử dụng 15 turbine do Đức hỗ trợ đầu tư. Đây được xem là dấu mốc đầu tiên đặt nền móng cho lĩnh vực điện gió trong nước.
Vài năm sau, dự án điện gió ven biển Bạc Liêu với công suất 96 MW đi vào vận hành, đánh dấu bước tiến mới khi công nghệ turbine được triển khai trên vùng biển ven bờ. Hai dự án tiên phong này được hưởng cơ chế giá điện ưu đãi (FIT1), tạo động lực để nhiều doanh nghiệp bắt đầu tìm hiểu và đầu tư vào lĩnh vực còn khá mới mẻ tại Việt Nam.
Cánh đồng điện gió tại Bạc Liêu. Ảnh: TM.
Sau Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu năm 2015, xu hướng phát triển năng lượng tái tạo trên toàn cầu diễn ra mạnh mẽ. Nhiều quốc gia đã ký kết tham gia liên minh năng lượng tái tạo.
Thực tế cho thấy Việt Nam đã thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư quốc tế từ khá sớm. Ngay từ năm 2017, nhiều doanh nghiệp nước ngoài, trong đó có các nhà đầu tư đến từ Vương quốc Anh, đã tìm hiểu cơ hội phát triển điện gió ngoài khơi tại Việt Nam.
Năm 2021, Ngân hàng Thế giới công bố nghiên cứu cho rằng Việt Nam hoàn toàn có thể phát triển từ 35 GW đến 70 GW điện gió ngoài khơi vào năm 2030, tùy theo kịch bản phát triển và mức độ hoàn thiện chính sách. Những đánh giá tích cực này đã tạo ra làn sóng quan tâm mạnh mẽ từ các tập đoàn năng lượng đến từ Đan Mạch, Nhật Bản, Australia, Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác.
Trong nước, Việt Nam tiếp tục ban hành cơ chế FIT2 với mức giá hấp dẫn cho điện gió trên bờ và ven biển. Chính sách này tạo nên "làn sóng" đầu tư chưa từng có khi gần 100 dự án được triển khai trên cả nước trong giai đoạn 2018-2020. Đã có những dự án gặp khó khăn do chưa hoàn thiện thủ tục pháp lý hoặc chưa ký được hợp đồng mua bán điện. Thị trường điện gió sau cơ chế FIT2 rơi vào trầm lắng.
Sau đó, từ năm 2022-2023, nhiều địa phương ven biển phía Nam ghi nhận tình trạng các doanh nghiệp đăng ký khảo sát dày đặc, đến mức nhiều khu vực biển gần như đã được "đặt chỗ". Điều đó cho thấy sức hấp dẫn rất lớn của thị trường điện gió ngoài khơi Việt Nam.
Gần đây, các dự án điện gió tiếp tục được mở rộng và nối lưới với công suất khoảng hơn 1.000 MW, đưa tổng công suất điện gió hiện tại của cả nước đạt hơn 6.000 MW đã được nối lưới thành công, trở thành một trong những nguồn năng lượng tái tạo phát triển nhanh nhất tại Việt Nam.
Tuy nhiên, các dự án hiện nay vẫn là điện gió trên bờ và ven bờ. Điện gió ngoài khơi - lĩnh vực được đánh giá có tiềm năng lớn nhất - vẫn gần như chưa được khai thác. Bên cạnh đó, thách thức còn bởi tốc độ hoàn thiện thể chế chưa theo kịp sự quan tâm của nhà đầu tư.
Gỡ điểm nghẽn thể chế
Phải đến năm 2024, điện gió ngoài khơi mới được "định danh" trong Luật Điện lực.
Theo quy định, các dự án điện gió đặt ngoài phạm vi 6 hải lý tính từ đường mép nước biển thấp nhất trung bình nhiều năm được xác định là điện gió ngoài khơi, trong khi các dự án nằm trong phạm vi này được xếp vào nhóm điện gió ven bờ và thuộc thẩm quyền quản lý của địa phương. Việc xác lập khái niệm pháp lý được xem là bước tiến quan trọng, tạo nền tảng cho việc xây dựng các cơ chế quản lý và thu hút đầu tư vào lĩnh vực còn rất mới ở Việt Nam.
Tiếp đó, Quy hoạch điện VIII và Quy hoạch điện VIII điều chỉnh năm 2025 đã đặt ra những mục tiêu tham vọng. Theo quy hoạch, đến năm 2030, tổng công suất điện gió trên bờ và ven bờ dự kiến đạt khoảng 20 GW, trong khi điện gió ngoài khơi đạt 6 GW. Tầm nhìn đến năm 2050, công suất điện gió trên bờ sẽ tăng lên khoảng 80-90 GW, còn điện gió ngoài khơi hướng tới gần 140 GW, trở thành một trong những nguồn năng lượng chủ lực của hệ thống điện quốc gia.
"Dù vậy, nhiều nội dung quan trọng như quy hoạch không gian biển dành riêng cho điện gió ngoài khơi, cơ chế giao khu vực biển, quy trình lựa chọn nhà đầu tư, đấu nối hạ tầng truyền tải hay chia sẻ dữ liệu khảo sát vẫn chưa được hoàn thiện. Đây chính là "điểm nghẽn" lớn nhất của thị trường hiện nay",TS. Dư Văn Toán thẳng thắn nhìn nhận.
Điện gió ngoài khơi được tính từ 6 hải lý trở ra. Ảnh: VASI.
Trung bình, để phát triển 1 GW điện gió ngoài khơi cần khoảng 3-4 tỷ USD, đồng nghĩa với việc chỉ riêng mục tiêu vài GW đầu tiên cũng cần nguồn vốn lên tới hàng chục tỷ USD. Nếu hành lang pháp lý chưa đầy đủ, các liên danh đầu tư và ngân hàng quốc tế rất khó đưa ra quyết định cấp vốn.
Một khó khăn khác là Việt Nam hiện chưa có hệ thống dữ liệu gió ngoài khơi cụ thể để các nhà đầu tư có thể sử dụng ngay. Vì vậy, doanh nghiệp phải tự đầu tư khảo sát. Chỉ riêng chi phí vận hành một trạm đo gió ngoài biển đã vào khoảng 2 triệu USD mỗi năm. Tuy nhiên, sau khi bỏ ra khoản kinh phí rất lớn để khảo sát, doanh nghiệp vẫn chưa có cơ chế pháp lý bảo đảm quyền ưu tiên đối với khu vực biển mà mình đã đầu tư thu thập dữ liệu. Đây là rủi ro khiến nhiều nhà đầu tư vẫn còn dè dặt.
Luật Điện lực năm 2024 đã giao Bộ Tài nguyên và Môi trường (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) thực hiện cấp phép khảo sát điện gió ngoài khơi. Cuối năm 2025, Chính phủ lựa chọn một số doanh nghiệp nhà nước như Tập đoàn Điện lực Việt Nam và Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam triển khai các dự án thí điểm khảo sát. Đầu năm 2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục cấp phép khảo sát cho một số doanh nghiệp trong nước và nước ngoài.
Tuy nhiên, khi cơ chế lựa chọn nhà đầu tư và lộ trình cấp chủ trương đầu tư chưa thực sự rõ ràng, nhiều doanh nghiệp vẫn thận trọng trong việc quyết định bỏ vốn khảo sát và phát triển dự án.
Trong bối cảnh này, TS. Dư Văn Toán cho rằng, nếu hệ thống pháp luật liên quan được hoàn thiện đồng bộ ngay trong năm 2026, từ Luật Điện lực, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, Luật Đất đai… đến các quy định về quy hoạch không gian biển, giao khu vực biển và đấu nối hạ tầng, Việt Nam hoàn toàn có thể xuất hiện những turbine điện gió ngoài khơi đầu tiên vào giai đoạn 2028-2029.
Những turbine sẽ trở thành động lực mới của kinh tế biển
Có đánh giá tích cực về triển vọng điện gió, TS. Dư Văn Toán phân tích, thời gian gần đây, xung đột quốc tế, đứt gãy chuỗi cung ứng và biến động giá dầu khí liên tục đã buộc nhiều quốc gia phải đẩy nhanh quá trình chuyển dịch sang các nguồn năng lượng sạch nhằm bảo đảm an ninh năng lượng và giảm phụ thuộc vào nhiên liệu nhập khẩu.
Tại Việt Nam, xu hướng này cũng đang diễn ra rõ nét. Sự phát triển nhanh của phương tiện giao thông điện cùng với cam kết phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050 đang tạo ra nhu cầu ngày càng lớn đối với nguồn điện xanh.
Đặc biệt, việc Liên minh châu Âu triển khai Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM), áp dụng với các ngành có mức phát thải cao như thép, xi măng, nhôm hay phân bón, đang tạo sức ép buộc các doanh nghiệp xuất khẩu phải giảm phát thải trong toàn bộ chuỗi sản xuất. Điều đó đồng nghĩa, nhu cầu sử dụng điện từ các nguồn năng lượng tái tạo sẽ ngày càng gia tăng và trở thành yếu tố cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường quốc tế.
Một tín hiệu tích cực là thị trường điện xanh tại Việt Nam đã bắt đầu hình thành. Cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA) đã xuất hiện với những giao dịch đầu tiên, khi một số doanh nghiệp FDI lớn chủ động mua điện tái tạo phục vụ sản xuất thông qua hệ thống điện quốc gia. Nếu mô hình này tiếp tục được mở rộng, đây sẽ là động lực quan trọng thúc đẩy đầu tư vào điện gió và điện mặt trời.
Các turbine điện gió sẽ trở thành những “cột mốc xanh” giữa đại dương. Ảnh: Báo Chính phủ.
Trong bức tranh đó, điện gió ngoài khơi được đánh giá là một trong những nguồn năng lượng có nhiều lợi thế cạnh tranh nhất. Mặc dù đòi hỏi vốn đầu tư lớn, nhưng cùng với sự phát triển của công nghệ, chi phí xây dựng và vận hành các dự án đang giảm nhanh, từng bước tiệm cận và cạnh tranh với các nguồn điện truyền thống như nhiệt điện than hay điện khí.
Đối với Việt Nam, giá trị của điện gió ngoài khơi không chỉ nằm ở việc tạo ra nguồn điện sạch. Các công trình ngoài biển hoàn toàn có thể được tích hợp với nhiều hoạt động kinh tế khác trên cùng một không gian biển. Khu vực xung quanh các chân turbine có thể trở thành nơi hình thành các rạn san hô nhân tạo và hệ sinh thái biển mới, góp phần phục hồi nguồn lợi thủy sản. Xen giữa các cụm turbine có thể bố trí điện mặt trời nổi hoặc các khu nuôi biển công nghệ cao, tạo ra mô hình khai thác đa mục tiêu thay vì chỉ sử dụng không gian biển cho một hoạt động đơn lẻ.
Đặc biệt, trong tương lai, khi sản lượng điện gió vượt khả năng hấp thụ của lưới điện, nguồn điện này có thể được sử dụng để điện phân nước biển sản xuất hydro xanh phục vụ xuất khẩu hoặc cung cấp cho các ngành công nghiệp khó giảm phát thải. Đây được xem là hướng đi chiến lược mà nhiều quốc gia đang theo đuổi nhằm nâng cao giá trị của năng lượng tái tạo.
Không chỉ vậy, điện gió ngoài khơi còn có thể hình thành một ngành công nghiệp hoàn toàn mới với chuỗi giá trị rộng lớn, từ cơ khí chế tạo, đóng tàu, xây dựng công trình biển, logistics, sản xuất thiết bị, dịch vụ vận hành, bảo trì đến công nghệ dự báo khí tượng, hải văn và quan trắc môi trường.
Ở góc độ quản trị biển, những trang trại điện gió quy mô lớn nằm cách bờ hàng trăm kilômét còn góp phần tăng cường năng lực giám sát vùng biển xa thông qua hệ thống radar, quan trắc và hạ tầng kỹ thuật hiện đại. Khi đó, các turbine điện gió không chỉ tạo ra điện năng mà còn trở thành những “cột mốc xanh” giữa đại dương, góp phần khẳng định sự hiện diện, năng lực quản lý và khai thác bền vững không gian biển của Việt Nam.
Nếu các "điểm nghẽn" về quy hoạch, giao khu vực biển, cấp phép khảo sát và lựa chọn nhà đầu tư được tháo gỡ trong giai đoạn 2026-2027, Việt Nam không chỉ có cơ hội xuất hiện những turbine ngoài khơi đầu tiên vào cuối thập kỷ này mà còn có thể hình thành một ngành công nghiệp biển xanh mới, đủ sức cạnh tranh trong chuỗi giá trị năng lượng tái tạo toàn cầu.




























