TS. Nguyễn Lê Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) trăn trở khi nhìn nhận về năng lực khoa học công nghệ biển Việt Nam hiện nay còn nhiều khoảng trống, trong khi mục tiêu, khát vọng lại lớn lao…
Biển rộng, công nghệ hẹp…
Thưa ông, nhiều quốc gia có biển mạnh trên thế giới đều đặt KHCN ở vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển kinh tế biển và quản trị đại dương. Vậy trình độ và năng lực về KHCN biển có được xem là một trong các tiêu chí để đánh giá một quốc gia có thể trở thành “cường quốc biển”?
Theo tôi, KHCN biển đóng vai trò nền tảng, xuyên suốt và mang tính quyết định đối với khả năng làm chủ, khai thác bền vững và bảo vệ các vùng biển. Trình độ KHCN biển chính là một trong những thước đo cốt lõi để đánh giá một quốc gia có thực sự trở thành cường quốc biển hay không.
Những nước dẫn đầu như Na Uy - nơi kinh tế biển chiếm tới hơn 26% GDP - đều sở hữu hạ tầng điều tra, quan trắc hiện đại, đội ngũ nghiên cứu mạnh và khả năng đổi mới công nghệ vượt trội. Các nền kinh tế lớn như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc cũng đầu tư rất mạnh cho nghiên cứu phát triển (R&D) lĩnh vực biển. Vì vậy, không thể nói đến “mạnh từ biển, giàu từ biển” nếu năng lực KHCN biển còn lạc hậu.
TS. Nguyễn Lê Tuấn luôn trăn trở với những bài toán về khoa học công nghệ biển của Việt Nam. Ảnh: Thanh Trang.
Đối với Việt Nam, một quốc gia có khoảng 3.260 km đường bờ biển, vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên Biển Đông rộng khoảng 1 triệu km², biển đóng vai trò trọng yếu trong lịch sử phát triển đất nước và sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ngay từ những thập niên 60-70 của thế kỷ XX, chúng ta đã quan tâm đến KHCN biển.
Nghị quyết số 36/NQ-TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xác định: khoa học công nghệ tiên tiến, hiện đại và nguồn nhân lực chất lượng cao chính là nhân tố đột phá để phát triển kinh tế biển.
Sớm nhìn nhận rõ vai trò của KHCN biển, vậy hoạt động KHCN của Việt Nam đang được thực hiện trên các lĩnh vực/bình diện nào, thưa ông?
Không thể tiến ra biển bằng “thuyền thúng”! Chúng ta cần có tàu nghiên cứu hiện đại, phao quan trắc tự động, máy bay không người lái, vệ tinh chuyên dụng…. và đội ngũ nhà khoa học được đào tạo bài bản.
Khoa học - công nghệ biển hiện nay của Việt Nam được triển khai trên 5 bình diện chính.
Đầu tiên là quan trắc và giám sát môi trường biển. Đây là bình diện nền tảng, bao gồm mạng lưới trạm khí tượng, hải văn, trạm radar ven bờ, phao tự động (có những hệ thống phao trôi toàn cầu với hàng nghìn thiết bị), hệ thống đo sóng, dòng chảy ADCP, hệ thống đo nhiệt muối CTD, và gần đây là các thiết bị tự hành dưới nước như tàu lượn (glider) cũng như mạng lưới cảm biến kết nối vạn vật dưới nước.
Thứ hai, viễn thám và mô hình số trị. Ảnh vệ tinh giúp theo dõi nhiệt độ bề mặt, độ đục, hàm lượng diệp lục, dòng chảy. Các mô hình toán học mô phỏng sóng, dòng chảy, mực nước và nước dâng do bão – đó là công cụ không thể thiếu cho dự báo và quy hoạch việc khai thác, sử dụng và bảo vệ môi trường các vùng biển.
Thứ ba, công nghệ sinh học và khai thác tài nguyên bền vững: Nghiên cứu đa dạng sinh học, nuôi trồng thủy sản công nghệ cao, khai thác dược liệu từ biển, phát triển vật liệu mới.
Thứ tư, công nghệ kỹ thuật biển như: đóng tàu, xây dựng công trình ven bờ, khai thác dầu khí, năng lượng tái tạo ngoài khơi như điện gió và điện thủy triều.
Thứ năm, quản lý dữ liệu và chuyển đổi số: xây dựng cơ sở dữ liệu biển quốc gia, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn trong cảnh báo sớm, dự báo và hỗ trợ ra quyết định.
Các cán bộ Viện Khoa học môi trường, biển và hải đảo (trước đây) thực hiện đo đạc, khảo sát môi trường biển tại Côn Đảo. Ảnh: IMHENS.
Chưa đến 1% diện tích biển Việt Nam được điều tra khảo sát chi tiết
Theo ông, KHCN biển của Việt Nam đang ở mức độ nào so với các nước trong khu vực? Phải chăng đang tồn tại một khoảng trống lớn giữa trình độ KHCN với mục tiêu, khát vọng vươn ra biển, làm chủ đại dương?
Thẳng thắn mà nói, trình độ khoa học - công nghệ biển Việt Nam hiện đang ở mức trung bình trong khu vực Đông Nam Á và tụt hậu khá xa so với các nước dẫn đầu ở châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc…
Về mạng lưới quan trắc, cả nước mới có 27 trạm hải văn, mật độ trung bình 120 km/trạm, mật độ này là quá thưa thớt. Các nước tiên tiến có mật độ trạm dày đặc hơn nhiều và họ còn có hệ thống radar ven bờ, phao Argo, tàu lượn ngầm (sea glider) hoạt động thường xuyên.
Về trang thiết bị, nhiều trạm vẫn dùng máy tự ghi mực nước cơ khí, máy quan trắc sóng thủ công, đo độ mặn bằng máy cầm tay. Tỷ lệ tự động hóa thấp, thiếu hệ thống truyền dữ liệu thời gian thực.
Về đầu tư cho R&D, tỷ lệ chi cho nghiên cứu và phát triển trên GDP của Việt Nam hiện chỉ khoảng 0,5%, trong khi các nước dẫn đầu thường đạt trên 2%, thậm chí 3-4%.
Về năng suất lao động, các ngành kinh tế biển có năng suất cao nhất thế giới là khai thác dầu khí ngoài khơi và vận tải biển - cảng biển. Nhưng ở Việt Nam, năng suất các ngành này còn thấp do thiết bị lạc hậu, thiếu tự động hóa và số hóa.
Những hạn chế về KHCN, chúng ta gặp ngay từ bước điều tra cơ bản tài nguyên môi trường biển?
Đúng vậy! Diện tích biển được điều tra còn rất nhỏ. Theo Cục Biển và Hải đảo Việt Nam, tính đến nay, chúng ta đã điều tra tỷ lệ 1:500.000 trên diện tích khoảng 375.688 km² (chiếm 38% vùng biển Việt Nam); điều tra tỷ lệ 1:100.000 trên diện tích khoảng 30.518 km² tuy nhiên việc điều tra khảo sát chi tiết ở tỷ lệ 1:50.000 mới đạt khoảng 3.023 km² (chiếm 0,3%), và các nhà khoa học Việt Nam còn đang rất thiếu thông tin ở vùng biển ngoài khơi xa.
Nguyên nhân là bởi thiết bị nghiên cứu còn nhiều hạn chế. Công nghệ để điều tra, khảo sát hầu hết được chuyển giao từ các nước khác, công nghệ “make in Viet Nam” gần như chưa có, một số thiết bị tự chế tạo mới dừng ở “pilot” (thử nghiệm), cần đầu tư nhiều mới có thể sản xuất diện rộng và thương mại hóa.
Một cán bộ thực hiện đo đạc địa hình đầm Lập An, Lăng Cô, Thừa Thiên - Huế. Ảnh: IMHENS.
Ba khó khăn lớn
Theo ông, đâu là những khó khăn chính yếu, những nút thắt cần tháo gỡ để thúc đẩy KHCN biển phát triển?
Tôi cho rằng, có ít nhất ba khó khăn lớn cần được nhìn nhận và tìm cách giải quyết.
Đầu tiên là thể chế và cơ chế tài chính phải xuất phát và phù hợp với mục tiêu “kiến tạo phát triển”. Các đề tài, dự án khoa học công nghệ biển lâu nay thường phân tán, manh mún. Hiện nay, vấn đề này đang được quan tâm, giải quyết căn cơ thông qua việc triển khai đồng bộ, quyết liệt các Nghị quyết của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết 57-NQ/TW. Trên cơ sở đưa ra những bài toán lớn, những vấn đề khoa học và công nghệ thiết yếu, từ đó ưu tiên phân bổ nguồn lực, thúc đẩy mô hình 4 nhà….
Bên cạnh đó, nhân lực chất lượng cao cho nghiên cứu biển rất thiếu cũng như xây dựng và hình thành hệ sinh thái về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo về biển còn hạn chế.
Mặt khác hạ tầng kỹ thuật lạc hậu, thiếu đồng bộ, thiếu cơ chế hợp tác liên ngành và chia sẻ dữ liệu. Hệ thống tàu nghiên cứu biển còn rất ít, phần lớn đã cũ. Các trạm quan trắc cố định chưa được tự động hóa cao. Radar mảng pha tần số cao - loại có thể đo dòng chảy, sóng xa bờ - gần như chưa được triển khai.
Các cán bộ khảo sát môi trường tại đảo tiền tiêu Cô Tô, Quảng Ninh. Ảnh: IMHENS.
Các bộ, ngành, địa phương đều có hoạt động nghiên cứu biển, nhưng chưa có cơ chế điều phối chung; hiện tượng “cát cứ” thông tin, dữ liệu vẫn còn, chưa chuyển đổi số toàn diện, đồng bộ để hình thành, cập nhật cơ sở dữ liệu dùng chung nên hiệu quả sử dụng chưa cao.
Xây dựng cơ sở dữ liệu biển là tài sản số quốc gia
Nhận diện rõ những thách thức đang đặt ra đối với lĩnh vực khoa học và công nghệ biển, theo ông, cần có những giải pháp gì để tạo bước đột phá trong thời gian tới?
Theo tôi, để nâng cao năng lực khoa học và công nghệ biển, cần triển khai đồng bộgiải pháp từ thể chế chính sách đến thực thi các vấn đề về nguồn lực, chuyển đổi số, hợp tác...
Đó là cần xây dựng và thực thi chiến lược quốc gia về hạ tầng quan trắc biển với lộ trình cụ thể. Giai đoạn 2026-2027 cần thí điểm từ 10-15 phao quan trắc thông minh ven bờ; giai đoạn 2028-2030 mở rộng lên khoảng 50 phao cùng các thiết bị tự hành; sau năm 2030 từng bước phủ sóng hệ thống quan trắc trên toàn vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.
Hoàn thiện khung pháp lý cho mô hình hợp tác công - tư trong lĩnh vực biển sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp tham gia đầu tư xây dựng, vận hành các trạm quan trắc, khai thác dữ liệu và cung cấp các dịch vụ trên cơ sở phù hợp với quy định của pháp luật.
Đào tạo và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt trong các lĩnh vực hải dương học số, viễn thám, trí tuệ nhân tạo (AI) và robot dưới nước, là vấn đề cần đi trước nhằm tạo nền tảng cho nghiên cứu và ứng dụng công nghệ. Cùng với đó là cơ chế đãi ngộ đủ sức cạnh tranh về thu nhập, điều kiện làm việc và nhà ở để thu hút, giữ chân đội ngũ chuyên gia.
Phải xây dựng cơ sở dữ liệu biển quốc gia mở trên quan điểm coi dữ liệu biển là "tài sản số quốc gia". Hệ thống này cần kết nối đồng bộ dữ liệu từ mạng lưới quan trắc, vệ tinh, tàu khảo sát và các chương trình nghiên cứu, áp dụng các tiêu chuẩn thống nhất, tương thích với thông lệ quốc tế để phục vụ chia sẻ và khai thác hiệu quả.
Ngoài ra cần tăng cường hợp tác quốc tế và cần ưu tiên bố trí nguồn lực tài chính ổn định cho công tác vận hành và duy trì các hệ thống nghiên cứu, quan trắc biển, tránh tình trạng đầu tư ban đầu nhưng thiếu kinh phí duy trì, dẫn đến lãng phí và không phát huy hiệu quả.
Động lực và niềm tin của nhà khoa học biển
Nghiên cứu KHCN biển là lĩnh vực nhiều thử thách, đòi hỏi sự đầu tư lâu dài và bền bỉ. Theo ông, điều gì sẽ tiếp thêm động lực để các nhà khoa học giữ vững đam mê, không ngừng sáng tạo và kiên trì theo đuổi mục tiêu làm chủ công nghệ biển?
Động lực của các nhà khoa học biển, một phần từ đam mê với nghiên cứu khoa học, với biển, đại dương, một phần còn từ những chính sách của Nhà nước quyết tâm đầu tư cho KHCN.
TS. Nguyễn Lê Tuấn trao đổi với phóng viên Báo Nông nghiệp và Môi trường. Ảnh: Thanh Trang.
Về chính sách, Nghị quyết 57-NQ/TW là bệ phóng cho một cuộc cách mạng thực sự. Nghị quyết xác định khoa học công nghệ là “đột phá quan trọng hàng đầu”, yêu cầu xóa bỏ tư duy “không quản được thì cấm”, chấp nhận rủi ro, đầu tư mạo hiểm và độ trễ trong nghiên cứu. Điều này mở ra một hành lang pháp lý hoàn toàn mới cho các nghiên cứu biển.
Nghị quyết cũng đặt mục tiêu chi cho R&D đạt 2% GDP, trong đó kinh phí từ xã hội chiếm trên 60%; bố trí ít nhất 3% tổng chi ngân sách hằng năm cho khoa học công nghệ và chuyển đổi số. Đây là cơ sở quan trọng để tăng nguồn lực cho công tác nghiên cứu.
Đặc biệt mới đây, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg về Danh mục công nghệ chiến lược và danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược, trong đó có công nghệ biển, đại dương. Đây là cơ sở quan trọng để Việt Nam tập trung nguồn lực phát triển các lĩnh vực công nghệ lõi, công nghệ nền tảng và các sản phẩm có tác động lớn đến tăng trưởng kinh tế, năng lực cạnh tranh và bảo đảm an ninh quốc gia.
Tôi tin rằng, khi đam mê của nhà khoa học được tiếp sức bằng những cơ chế thông thoáng, nguồn lực đủ mạnh và sự tin tưởng của Nhà nước, khát vọng làm chủ công nghệ biển sẽ được hiện thực hóa bằng những công trình khoa học có giá trị, góp phần đưa Việt Nam từng bước trở thành quốc gia biển mạnh trong thế kỷ XXI, dựa trên tri thức và công nghệ.
Trân trọng cảm ơn ông!
Bài học xuyên suốt là: KHCN biển cần được đầu tư một cách có hệ thống, liên tục và gắn với thực tiễn. Không thể chạy theo phong trào hay đầu tư dàn trải. Phải có tầm nhìn dài hạn, lấy doanh nghiệp làm trung tâm ứng dụng, nhà khoa học làm then chốt, và Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, dẫn dắt. Nếu làm được điều đó, Việt Nam hoàn toàn có thể bứt phá, trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển trong kỷ nguyên mới.















