Diễn đàn “Kết nối sản xuất và tiêu thụ nông sản các tỉnh vùng Bắc Trung bộ” diễn ra từ 8h30 sáng 6/8 tại TP Vinh (Nghệ An), quy tụ các bên liên quan từ Trung ương đến địa phương nhằm thúc đẩy phát triển bền vững các ngành hàng chủ lực như dứa, chè và cây ăn quả có múi.
Chương trình do Báo Nông nghiệp và Môi trường phối hợp Hội Làm vườn Việt Nam, Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Nghệ An tổ chức, theo chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Rất đông đại biểu, phóng viên các cơ quan báo chí Trung ương và địa phương có mặt tại đầu cầu trực tiếp của diễn đàn, sáng 6/8.
Diễn đàn hướng tới mục tiêu hình thành chuỗi liên kết sản xuất - chế biến - tiêu thụ nông sản có lợi thế, qua đó nâng cao giá trị gia tăng, mở rộng thị trường và quảng bá đặc sản vùng miền.
Với hàng triệu hecta đất nông lâm nghiệp, Bắc Trung bộ từ lâu được xác định là vùng trọng điểm trong chiến lược phát triển nông nghiệp quốc gia. Trong giai đoạn 2020-2025, các địa phương như Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa… đã xây dựng các đề án phát triển nông nghiệp thích ứng biến đổi khí hậu, góp phần cải thiện thu nhập và thay đổi diện mạo nông thôn.
Phó Tổng Biên tập Báo Nông nghiệp và Môi trường Trần Cao dẫn dắt phần tọa đàm trong khuôn khổ diễn đàn.
Riêng với 3 loại cây trồng chủ lực, gồm dứa, chè, cây có múi, khu vực có tổng diện tích hơn 28.600 ha, sản lượng hằng năm đạt 400.000 tấn. Những sản phẩm này đang từng bước khẳng định vị thế trên thị trường, nhờ sự đầu tư về vùng nguyên liệu, kỹ thuật canh tác và chế biến.
Tổng thuật: Diễn đàn Kết nối sản xuất, tiêu thụ nông sản ở Bắc Trung bộ
Tuy nhiên, vùng vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Biến đổi khí hậu với thiên tai cực đoan, thiếu hụt hạ tầng thủy lợi và logistics, biến động thị trường trong nước và quốc tế là những rào cản cần tháo gỡ. Đặc biệt, tư duy phát triển nông nghiệp theo hướng kinh tế thay vì đơn thuần sản xuất đang là yêu cầu cấp thiết.
Diễn đàn lần này là cơ hội để các bên cùng nhìn nhận lại hiện trạng, chia sẻ kinh nghiệm và kiến nghị chính sách. Tham gia chương trình có đại diện Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các sở ngành địa phương, tổ chức quốc tế, viện nghiên cứu, doanh nghiệp, hợp tác xã, nông dân tiêu biểu và báo chí.
Khu vực Bắc Trung bộ có tiềm năng lớn hình thành các vùng chuyên canh như dứa, chè, cây có múi. Ảnh minh họa.
Các tham luận và ý kiến trao đổi sẽ tập trung vào các vấn đề then chốt như xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn, thúc đẩy chế biến sâu, ứng dụng chuyển đổi số, hoàn thiện logistics và tăng cường xúc tiến thương mại. Những đề xuất tại Diễn đàn sẽ là cơ sở để cơ quan chức năng tiếp tục điều chỉnh chính sách, đồng thời thúc đẩy hợp tác hiệu quả giữa các địa phương, doanh nghiệp và nông dân trong vùng.
Thông qua Diễn đàn, Bắc Trung bộ kỳ vọng sẽ định hình một nền nông nghiệp hiện đại, xanh và bền vững, đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế, góp phần hiện thực hóa cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”.
11 giờ 30 phút
Giấc mơ ‘tỷ đô’ từ vùng đất khắc nghiệt Bắc Trung bộ
Với hơn 40 năm kinh nghiệm trong ngành nông nghiệp, PGS.TS Lê Quốc Doanh, nguyên Thứ trưởng Bộ NN-PTNT, Chủ tịch Hội Làm vườn Việt Nam luôn tin, rằng Bắc Trung bộ, dù thiên nhiên khắc nghiệt, vẫn là vùng đất giàu tiềm năng nếu biết cách khai thác. “Con người ở đây thông minh, tháo vát. Nhiều người lo ngại khí hậu khắc nghiệt, nhưng nếu biết vận dụng, chính yếu tố này lại tạo ra lợi thế cạnh tranh, đặc biệt với cây dứa”, ông tổng kết tại Diễn đàn Kết nối sản xuất và tiêu thụ nông sản vùng Bắc Trung bộ sáng 6/8.
PGS.TS Lê Quốc Doanh, nguyên Thứ trưởng Bộ NN-PTNT, Chủ tịch Hội Làm vườn Việt Nam.
Theo ông Doanh, vùng đất Nghệ An và một số tỉnh lân cận có điều kiện lý tưởng để phát triển cây dứa, nhất là giống MD2. “Trời càng khô, độ Brix càng cao. Cây chịu hạn giỏi, bão vào cũng không đổ, canh tác gần như hữu cơ”, ông nhấn mạnh.
Dứa không chỉ phù hợp với điều kiện tự nhiên mà còn có tiềm năng lớn về thị trường. Điều khiến nông dân trăn trở nhất - đầu ra - nay phần nào được tháo gỡ khi Công ty DOVECO cam kết đồng hành lâu dài tại vùng Bắc Trung bộ.
“Tôi đặc biệt yên tâm khi DOVECO đầu tư vào đây. Đây là một doanh nghiệp chuyên nghiệp, có hệ sinh thái chế biến bài bản. Nếu mở rộng được diện tích, cây dứa hoàn toàn có thể trở thành cây ‘tỷ đô’ mới của vùng”, ông Doanh nói.
Trái với đà đi lên của cây dứa, cây có múi, từng là thế mạnh của Bắc Trung bộ, lại đang suy giảm nghiêm trọng. Nguyên nhân chủ yếu đến từ dịch bệnh và giống thoái hóa. Bệnh Greening (vàng lá gân xanh) đã được xác định là thủ phạm chính, khiến nhiều vườn cam, quýt bị phá bỏ trong những năm gần đây.
Nhằm phục hồi ngành hàng này, Hội Làm vườn Việt Nam đã chủ động kết nối với phía Australia, quốc gia có nhiều kinh nghiệm trong phòng trừ bệnh Greening, để xin tài trợ dự án hỗ trợ kỹ thuật, giống sạch bệnh và quy trình canh tác thích ứng. Ông Doanh cho biết đây là hướng đi cần thiết để đưa cây có múi trở lại vị thế vốn có, đồng thời đa dạng hóa cây trồng chủ lực trong vùng.
Với hơn 10.000 ha chè, vùng Bắc Trung Bộ sở hữu tiềm lực lớn để phát triển ngành hàng này. Tuy nhiên, nguyên Thứ trưởng nhìn nhận, nhiều địa phương chưa tận dụng được hết tiềm năng.
“Giá trị từ chè búp tươi có thể đạt 400 triệu đồng/ha, nếu chế biến thành chè đen có thể tăng gấp đôi. Nhưng thực tế, thu nhập trung bình của Bắc Trung bộ chỉ khoảng 50-60 triệu đồng/ha - mức quá thấp”, ông đánh giá.
Nguyên nhân được chỉ ra là do chậm đổi mới giống, kỹ thuật canh tác và quy trình chế biến. Một số tỉnh đã bắt đầu tái cơ cấu lại giống, chọn hướng đi mới phù hợp với thị trường trong nước và xuất khẩu. Ông Doanh gợi ý các tỉnh nên tổ chức đoàn tham quan, học hỏi mô hình canh tác, chế biến chè tại Thái Nguyên, địa phương đang làm tốt việc nâng cao giá trị cây chè, từ trồng trọt tới thương hiệu sản phẩm.
Từ những phân tích trên, PGS.TS Lê Quốc Doanh bày tỏ, để khai mở tiềm năng nông sản Bắc Trung bộ, cần bắt đầu từ việc thay đổi tư duy canh tác và đầu tư bài bản, có chiến lược dài hạn.
“Khí hậu khắc nghiệt không phải là điểm yếu nếu con người biết thích nghi. Với sự đồng hành của doanh nghiệp như DOVECO, sự chủ động của địa phương và người dân, cùng với các nguồn hỗ trợ kỹ thuật từ quốc tế, Bắc Trung bộ hoàn toàn có thể hình thành những vùng sản xuất lớn, hiệu quả kinh tế cao”, ông khẳng định.
Ông cũng nhấn mạnh vai trò của liên kết bốn nhà - Nhà nước, nhà nông, nhà khoa học, doanh nghiệp - trong xây dựng các chuỗi giá trị bền vững. Chỉ khi nông sản được quy hoạch hợp lý, gắn với thị trường và công nghệ, những sản phẩm như dứa, chè, cây có múi mới có thể góp phần nâng tầm kinh tế cho vùng đất vốn bị đánh giá là “khó làm nông nghiệp” này.
“Càng khó càng phải nghĩ cách làm cho khác. Đó là cơ hội để vươn lên bằng chính sự khác biệt”, ông Doanh kết luận.
11 giờ 10 phút
Tốc độ nhân giống dứa MD2 còn chậm
Trăn trở về tỷ lệ áp dụng giống dứa MD2 còn thấp tại Việt Nam, ông Phạm Duy Thái, Chủ tịch HĐQT Công ty CP sản xuất thương mại và dịch vụ GLFOODS (Nghệ An), đặt vấn đề: Trong khi giống MD2 đã chiếm hơn 50% diện tích trồng dứa trên toàn thế giới, thì ở Việt Nam con số này lại chưa đến 5%. Ông Thái đề nghị cần làm rõ nguyên nhân khiến diện tích trồng MD2 còn khiêm tốn và đâu là giải pháp để phát triển trong thời gian tới.
Ông Phạm Duy Thái, Chủ tịch HĐQT Công ty CP sản xuất thương mại và dịch vụ GLFOODS.
Giải đáp mối quan tâm này, ông Đinh Cao Khuê, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc DOVECO, cho biết, nhu cầu thị trường với giống dứa MD2 là có thậ, không chỉ ở châu Âu mà còn ở các quốc gia khác như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc hay Trung Đông.
Tuy nhiên, điểm nghẽn hiện nay là tốc độ nhân giống ở Việt Nam đối với giống này còn chậm. Việc sản xuất cây giống bằng phương pháp nuôi cấy mô (in vitro) mới chỉ được triển khai ở một số viện nghiên cứu và chưa có nhiều doanh nghiệp tham gia, dẫn đến khả năng cung ứng hạn chế.
Giá giống nhập khẩu cũng là một rào cản lớn, ví dụ, mỗi chồi dứa MD2 nhập từ Costa Rica có giá lên tới 11.000 đồng nhưng chiều cao chỉ khoảng một gang tay, khiến chi phí đầu vào cao. Trong nước, ngoài in vitro, kỹ thuật nhân vô tính truyền thống bằng cách cắt khoanh cũng bị giới hạn khi mỗi khoanh chỉ tạo được 5 - 7 chồi, không đáp ứng được nhu cầu mở rộng diện tích nhanh chóng.
Ông Khuê nhấn mạnh, để phát triển cây dứa MD2 một cách bài bản, các địa phương cần chủ động tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp trong việc nhập giống và tiếp cận nguồn giống chất lượng. Đồng thời, cần có một chiến lược tổng thể từ nghiên cứu, thử nghiệm, đến đào tạo kỹ thuật và tổ chức liên kết sản xuất.
Bổ sung thêm quan điểm, ông Trần Cao, Phó Tổng Biên tập Báo Nông nghiệp và Môi trường, cho rằng, tỷ lệ nhân giống của giống dứa MD2 còn khá thấp, hiện chỉ đạt 2-3%. “Dứa và chuối đều là những cây trồng có tiềm năng xuất khẩu rõ ràng, nhưng để khai thác hiệu quả cần nghiên cứu chuyên sâu, chọn lọc giống và ứng dụng khoa học công nghệ”, ông nói.
11 giờ 00 phút
Khu vực phía Bắc có nhiều tiềm năng để phát triển mạnh cây dứa
Ông Nguyễn Thế Trung, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An, chia sẻ, dừa và dứa là hai mặt hàng có thị trường tiêu thụ lớn và ổn định trong năm. Khi miền Nam có nhiều lợi thế trồng dừa thì khu vực phía Bắc có nhiều tiềm năng để phát triển mạnh cây dứa nhờ điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng thuận lợi.
Ông Nguyễn Thế Trung, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An.
Ông Trung nhấn mạnh vai trò quan trọng của ngành công nghiệp chế biến nông sản, không chỉ như một động lực tăng trưởng mà còn là cầu nối liên kết giữa các địa phương. Tuy nhiên, lợi nhuận từ đầu tư vào chế biến nông sản chưa thể thấy ngay mà thường phải 6-7 năm mới có thể đánh giá hiệu quả thực sự. Việc này phụ thuộc vào yếu tố tự nhiên như đất đai, nguồn nguyên liệu ổn định và đảm bảo môi trường.
Do đó, nếu một nhà máy chế biến được xây dựng mà không đảm bảo nguồn nguyên liệu đầu vào thì sẽ rất rủi ro. Ông trăn trở, nhiều địa phương phải giải được bài toán làm thế nào để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào chế biến sâu nông sản, nâng cao giá trị sản phẩm và cải thiện thu nhập cho nông dân. Các địa phương cần có sự quan tâm sâu sắc hơn đến cơ chế, chính sách và chi phí môi trường cho đầu tư chế biến nông sản.
10 giờ 50 phút
Cần đầu ra ổn định cho sản phẩm từ dứa
Bà Bùi Thị Hồng Hà, Trung tâm Nông nghiệp Hữu cơ (Học viện Nông nghiệp Việt Nam) bày tỏ nhiều trăn trở khi nông dân mở rộng diện tích dứa nhưng chưa có phương án tiêu thụ bền vững.
Bà Bùi Thị Hồng Hà, Trưởng phòng Vi sinh nông nghiẹp, Trung tâm Nông nghiệp hữu cơ, Viện Nông nghiệp Việt Nam.
Theo bà Hà, cây dứa có nhiều lợi thế để phát triển tại các tỉnh Bắc Trung bộ, đặc biệt là trên những chân đất chuyển đổi từ lúa kém hiệu quả hoặc vùng gò đồi thiếu nước tưới. Đây là cây trồng phù hợp với điều kiện khô hạn, có thể cho thu nhập cao hơn so với lúa hay cây công nghiệp ngắn ngày. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi cần bền vững, tránh mang tính tự phát, thiếu liên kết giữa người trồng với doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu.
Dù là cây trồng tiềm năng, nhưng nếu không gắn cây dứa với thị trường thì nông dân sẽ rơi vào cảnh được mùa mất giá. Nhiều hộ dân trồng dứa chỉ dựa vào kinh nghiệm, chưa nắm chắc kỹ thuật nên chất lượng không đồng đều, khó vào được chuỗi xuất khẩu chính ngạch.
Trên cơ sở đó, bà Hà cho rằng những hộ dân chuyển đổi rất cần các doanh nghiệp đầu tư vào vùng nguyên liệu, nhằm tạo ra chính sách khuyến khích đủ mạnh, hạ tầng kho bãi, giao thông.
Chia sẻ thêm về nội dung này, ông Đinh Cao Khuê nhấn mạnh, mỗi cây trồng có một lợi thế riêng. Với dứa, DOVECO tự tin với nhiều giống năng suất, chất lượng, đặc biệt là tránh được hiện tượng thời vụ như một số cây ăn quả khác.
“Cây dứa chỉ trồng một năm, ngoài ra còn nguồn phế phụ phẩm từ lá dứa. Chúng ta hoàn toàn có thể luân canh dứa với các cây trồng khác”, ông Khuê phân tích và cho biết thêm, DOVECO rất tự tin với giống MD2 mà doanh nghiệp đang phân phối.
Vì vậy, DOVECO tin rằng dứa là một cây trồng tiềm năng, phù hợp với khu vực Bắc Trung bộ. Người dân có thể yên tâm, không rơi vào cảnh “được mùa mất giá”.
10 giờ 40 phút
Ngành hàng dứa sẽ góp phần tăng trưởng GDP cho đất nước
Phát biểu tại Tọa đàm, ông Nguyễn Quý Dương, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), đánh giá cao sự phối hợp của các đơn vị trong việc tổ chức Diễn đàn vào thời điểm phù hợp, tạo cơ hội để các tỉnh Bắc Trung bộ bứt phá tăng trưởng ngành trồng trọt trong giai đoạn cuối năm.
Ông Nguyễn Quý Dương, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường).
Từ các ý kiến tại Diễn đàn, có thể thấy dư địa phát triển các ngành hàng chè, dứa, cây có múi ở Bắc Trung Bộ vẫn còn rất lớn. Thực tế, nhiều đối tác quốc tế đã tìm đến đặt hàng nhưng sản lượng hiện tại vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu. Đây đều là những cây trồng có giá trị kinh tế cao, chịu hạn tốt. Riêng cây dứa, thời tiết càng nóng thì quả càng ngọt, càng thơm ngon, nâng cao giá trị thương phẩm.
Theo quy hoạch của Bộ Nông nghiệp và Môi trường đến năm 2030, tổng diện tích trồng dứa dự kiến khoảng 60.000 ha. Tuy nhiên, trước nhu cầu phát triển mạnh loại cây này, chắc chắn cần có sự điều chỉnh, cùng với những chương trình định hướng bài bản để biến dứa thành nông sản chủ lực, đóng góp vào tăng trưởng GDP và thúc đẩy xuất khẩu. Trong chiến lược này, thị trường Trung Quốc, với tiềm năng tiêu thụ khổng lồ, cần được đặc biệt chú trọng.
10 giờ 30 phút
Quy hoạch dứa, chè, cây có múi dựa trên bản đồ thổ nhưỡng
Ông Nguyễn Đức Cường, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Thanh Hóa, cho biết, tỉnh hiện có nhiều tiềm năng phát triển cây chè, dứa và cây ăn quả có múi.
Ông Nguyễn Đức Cường, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Thanh Hóa.
Với diện tích 4.000 ha dứa, Thanh Hóa đạt sản lượng khoảng 60-70 nghìn tấn mỗi năm. “Khi được bổ sung các giống mới triển vọng, năng suất sẽ còn tiếp tục tăng”, ông Cường nói. Riêng vùng cây ăn quả có múi hiện có khoảng 4.800 ha, tỉnh tập trung chủ yếu vào cam và bưởi. Đáng chú ý, sản xuất vải không hạt là điểm mới của Thanh Hóa với sản lượng lên tới 600 kg/vụ và đã bước đầu thâm nhập thị trường Nhật Bản trong năm nay.
Tuy nhiên, theo ông Cường, hoạt động sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản tại Thanh Hóa hiện còn nhiều điểm hạn chế. Các doanh nghiệp và hợp tác xã đầu tư vào các cây dứa, chè và cây ăn quả vẫn còn nhỏ lẻ, manh mún. Trước những khó khăn đó, tỉnh đã ban hành Nghị quyết 185/2021/NQ-HĐND một phần nhằm hỗ trợ phát triển cây ăn quả và các loại cây trồng chủ lực.
Trong giai đoạn 2026–2030, Sở NN-MT sẽ tham mưu UBND tỉnh ban hành cơ chế, chính sách chuyên biệt cho toàn ngành nông nghiệp - môi trường tại Thanh Hóa. Để đi sâu và bền vững vào các thị trường xuất khẩu, cần gắn chặt chuỗi sản xuất với khoa học công nghệ, chế biến sâu và xây dựng thương hiệu.
Theo ông Cường, tỉnh cũng mở rộng quy hoạch vùng trồng cây ăn quả, đồng thời đẩy mạnh xúc tiến thương mại, kêu gọi đầu tư và phát triển thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước. Ông Cường khẳng định: “Không thể thiếu sự hỗ trợ từ các bộ ngành Trung ương và địa phương, đặc biệt trong định hướng phát triển trồng trọt bền vững, nâng cao thu nhập cho nông dân”.
Sở NN-MT hiện đang triển khai bản đồ thổ nhưỡng, với kế hoạch hoàn thành đánh giá đất đai tại 66 xã trong năm 2025, tiến tới phủ đủ 100 xã còn lại vào năm 2026, nhằm xác định cây trồng phù hợp và nâng cao hiệu quả sản xuất.
10 giờ 20 phút
Dứa - mô hình đột phá trên vùng đất khắc nghiệt Vũ Quang
Bà Nguyễn Thị Việt Hà, Bí thư Đảng ủy xã Thượng Đức, tỉnh Hà Tĩnh, là người có công đầu trong việc đưa cây dứa về khu vực biên giới miền núi Vũ Quang. Theo bà Hà, khi nhận nhiệm vụ lãnh đạo địa phương, Vũ Quang vẫn còn là một huyện miền núi vùng sâu vùng xa, đời sống người dân còn nhiều khó khăn, sản xuất nông nghiệp manh mún, thiếu mô hình kinh tế chủ lực. Suốt cả quá trình hình thành và phát triển huyện, lãnh đạo huyện luôn trăn trở tìm hướng đi mới để tạo đột phá trong phát triển kinh tế nông nghiệp.
Bà Nguyễn Thị Việt Hà, Bí thư Đảng ủy xã Thượng Đức, tỉnh Hà Tĩnh, cho biết, nếu so sánh với cây keo thì lợi thế của cây dứa là rất rõ ràng.
Trước đó, lâm nghiệp tại Vũ Quang chủ yếu dựa vào cây keo, còn cây công nghiệp có thế mạnh là cam. Hai loại cây trồng này từng phát huy vai trò quan trọng trong xóa đói giảm nghèo, nhưng đến nay đã dần bộc lộ giới hạn về hiệu quả kinh tế.
Trong một lần khảo sát điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu Thượng Đức, bà Hà nhận thấy người dân địa phương có thói quen trồng dứa tự phát ven rào để chắn lối, song những bụi dứa ấy vẫn cho quả ngọt và phát triển khỏe mạnh, dù không được chăm sóc bài bản. Đây là tín hiệu tích cực khơi mở một hướng đi mới.
Từ nhận định đó, bà tìm hiểu thêm và kết nối với Công ty Cổ phần Thực phẩm Xuất khẩu Đồng Giao (DOVECO). Qua nghiên cứu và đánh giá thực địa, DOVECO xác nhận dứa là loại cây hoàn toàn phù hợp với vùng đất Thượng Đức và Vũ Quang, thậm chí có thể trở thành cây trồng chủ lực. Thực tế trồng thử nghiệm cũng cho thấy dứa sinh trưởng tốt, khả năng chịu hạn cao: cây vẫn phát triển dù nhiệt độ lên đến 36 độ C và không có mưa trong cả tuần.
Dù hiện chưa bước vào chính vụ, nhưng nhiều bụi dứa đã bói quả trái vụ, trọng lượng từ 1,6kg đến 2kg mỗi quả. Khi vào chính vụ, mỗi quả có thể đạt từ 2-3kg. Năng suất sơ bộ ước đạt khoảng 60 tấn/ha. Với giá thu mua thấp nhất theo hợp đồng đã ký với DOVECO là 5.500 đồng/kg, tổng doanh thu mỗi hecta đạt khoảng 330 triệu đồng. Sau khi trừ chi phí, nông dân vẫn có thể thu về tối thiểu 200 triệu đồng/ha.
So sánh với cây keo, một loại cây trồng phổ biến tại địa phương, thì lợi thế của cây dứa là rất rõ ràng. Keo phải trồng từ 5–7 năm mới thu hoạch, với tổng giá trị khoảng 100 triệu đồng/ha, sau khi trừ chi phí chỉ còn khoảng 60 triệu. Trong khi đó, dứa cho hiệu quả kinh tế cao gấp ba lần chỉ trong thời gian ngắn hơn rất nhiều.
Từ phép tính đơn giản và thực tế đó, Vũ Quang đã xác định dứa là mô hình cây ăn quả đột phá, mở ra một hướng phát triển mới cho kinh tế nông nghiệp địa phương, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân miền núi, từng bước thay đổi diện mạo vùng đất khó khăn này.
10 giờ 10 phút
Đặt nhà máy, DOVECO cam kết bao tiêu dứa ở Bắc Trung bộ
Ông Đinh Cao Khuê, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty CP Thực phẩm Xuất khẩu Đồng Giao (DOVECO), cho rằng, cây dứa có tiềm năng cạnh tranh vượt trội, không chỉ với các cây trồng truyền thống trong vùng mà còn trên thị trường quốc tế. Ông nhấn mạnh, để đạt hiệu quả, cần có định hướng rõ ràng về cây trồng thế mạnh, tránh tình trạng manh mún, tự phát.
Ông Đinh Cao Khuê (bên phải), Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty CP Thực phẩm Xuất khẩu Đồng Giao (DOVECO), tin tưởng, nếu được quy hoạch bài bản, cây dứa có thể trở thành mũi nhọn trong chiến lược nâng tầm nông sản vùng Bắc Trung bộ.
“Dứa là cây có thể trồng được quanh năm, không phụ thuộc thời vụ như xoài, cam, nhãn. Đó là lợi thế rất lớn trong tổ chức sản xuất và xuất khẩu. Không phải loại cây ăn quả nào cũng có thể vươn ra thế giới, nhưng dứa thì hoàn toàn có thể”, ông Khuê nói. Theo ông, nếu được quy hoạch bài bản, cây dứa có thể trở thành mũi nhọn trong chiến lược nâng tầm nông sản vùng Bắc Trung bộ.
Tuy nhiên, để khai thác tiềm năng này, lãnh đạo DOVECO đề nghị chính quyền địa phương có chính sách hỗ trợ nông dân, đặc biệt trong giai đoạn đầu trồng thử nghiệm cây trồng hoặc giống mới. “Chúng tôi sẵn sàng đồng hành, bao tiêu sản phẩm cho bà con, nhưng rất cần vai trò hỗ trợ từ Nhà nước để giảm thiểu rủi ro cho nông dân trong giai đoạn đầu chuyển đổi”, ông Khuê nói thêm.
DOVECO là doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu nông sản lớn, với các nhà máy hiện diện ở nhiều địa phương như Ninh Bình, Gia Lai, Sơn La. Lãnh đạo công ty cho biết, nếu có thể đặt nhà máy tại Nghệ An, trung tâm vùng Bắc Trung bộ, thì mỗi năm đơn vị có thể thu mua dứa từ 30.000 đến 40.000 ha, tạo động lực lớn cho người dân mở rộng diện tích và đầu tư sản xuất.
Lãnh đạo DOVECO cho biết, nếu có thể đặt nhà máy tại Nghệ An, trung tâm vùng Bắc Trung bộ, thì mỗi năm đơn vị có thể thu mua dứa từ 30.000-40.000 ha.
Không chỉ có khả năng cung ứng lớn, cây dứa còn tỏ ra vượt trội ở khía cạnh thích ứng biến đổi khí hậu. Theo ông Khuê, đây là loại cây có sức sống bền bỉ, chịu hạn tốt, phù hợp với nhiều loại đất và điều kiện khắc nghiệt. Do đó, việc phát triển vùng nguyên liệu dứa không chỉ phục vụ xuất khẩu mà còn góp phần ổn định sinh kế cho người dân trong bối cảnh thời tiết cực đoan ngày càng gia tăng.
Hiện DOVECO đẩy mạnh xuất khẩu dứa đóng hộp, nước ép, dứa đông lạnh sang các thị trường lớn như EU, Nhật Bản, Nga và Hoa Kỳ. Lãnh đạo công ty khẳng định sẽ tiếp tục mở rộng thị trường nếu đảm bảo được vùng nguyên liệu ổn định và chất lượng cao. Đồng thời, doanh nghiệp cũng cam kết giá sàn thu mua nhằm giúp nông dân yên tâm sản xuất.
10 giờ 00 phút
Nghệ An 'trải thảm đỏ' mời gọi đầu tư vào dứa, chè, cam
Tại Tọa đàm Khơi thông động lực phát triển nông nghiệp hàng hóa vùng Bắc Trung bộ, ông Nguyễn Văn Đệ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An, cho biết, địa phương có tiềm năng lớn để phát triển nông nghiệp, đặc biệt là với các cây dứa, chè, cam - những ngành hàng còn nhiều dư địa để bứt phá.
Ông Nguyễn Văn Đệ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An, cho biết, tỉnh đã xây dựng 4 cơ chế, chính sách quan trọng nhằm thu hút đầu tư.
Trong quy hoạch sản xuất cây ăn quả đến năm 2030, Nghệ An dành khoảng 8.600 ha đất cho trồng cam. Người dân nơi đây vốn có kinh nghiệm và truyền thống lâu năm trong canh tác cam, tạo nền tảng vững chắc để mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng.
Đối với cây chè, tỉnh hiện có khoảng 8.700 ha diện tích trồng và trong quy hoạch đến năm 2030 sẽ mở rộng lên 15.000 ha, khai thác tối đa thế mạnh của vùng.
Còn cây dứa, Nghệ An hiện trồng gần 1.800 ha nhưng thực tế có sẵn tới 5.000 ha đất phù hợp để sản xuất. Trong quy hoạch đến năm 2030, con số này sẽ tăng lên 13.800 ha. Nhiều địa phương như Quỳnh Lưu, Nghĩa Đàn… đã tích lũy kinh nghiệm trồng dứa từ nhiều năm, tạo lợi thế để phát triển vùng nguyên liệu quy mô lớn.
“Tuy nhiên, ngành hàng chè và dứa của Nghệ An vẫn gặp khó khăn ở khâu chế biến và mở rộng thị trường trong nước cũng như xuất khẩu. Đặc biệt, tỉnh hiện còn thiếu những doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực chè”, ông Nguyễn Văn Đệ chia sẻ, đồng thời bày tỏ mong muốn mời gọi các doanh nghiệp đến hợp tác, phát triển các ngành hàng này.
Theo đó, để “trải thảm đỏ” thu hút đầu tư, Nghệ An đã xây dựng 4 cơ chế, chính sách quan trọng. Thứ nhất, quy hoạch vùng nguyên liệu và đất đai để đảm bảo điều kiện xây dựng nhà máy sản xuất, chế biến. Thứ hai, ban hành nhiều chính sách khuyến khích người dân mở rộng sản xuất chè, dứa, cam.
Thứ ba, áp dụng các ưu đãi về đất đai, thuế, hạ tầng và vùng nguyên liệu dành cho nhà đầu tư. Thứ tư, thúc đẩy chuyển đổi số, sản xuất theo quy trình GlobalGAP, VietGAP, ưu tiên truy xuất nguồn gốc, minh bạch mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói, qua đó tiếp cận hiệu quả hơn với những thị trường tiềm năng trong và ngoài nước.
9 giờ 25 phút
Dứa Việt Nam hướng tới ưu thế toàn cầu
Theo báo cáo chuyên sâu của TS. Đinh Cao Khuê, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Thực phẩm Xuất khẩu Đồng Giao (DOVECO), ngành dứa Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để trở thành mặt hàng nông sản chủ lực, mang lại giá trị kinh tế cao. Bởi lẽ dứa là một trong những cây trồng có hiệu quả kinh tế vượt trội so với các cây trồng truyền thống.
TS. Đinh Cao Khuê, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Thực phẩm Xuất khẩu Đồng Giao (DOVECO), trình bày về tiềm năng của cây dứa.
Trong bức tranh toàn cầu, sản lượng dứa thế giới đã tăng trưởng ổn định, đạt gần 30 triệu tấn vào năm 2024. Việt Nam, với sản lượng 760.000 tấn vào năm 2024, đã khẳng định vị thế của mình, xếp thứ 11 thế giới về sản lượng. Dù thị phần xuất khẩu còn khiêm tốn, Việt Nam vẫn được đánh giá là quốc gia có tiềm năng lớn để mở rộng thị trường.
Các chuyên gia chỉ ra rằng, dứa là một mặt hàng có giá trị cao, đặc biệt khi được chế biến sâu, giúp nâng cao đáng kể giá trị xuất khẩu. Thị trường dứa toàn cầu đang tăng trưởng 5-6% mỗi năm, với nhu cầu về các sản phẩm chế biến như nước ép và dứa đóng hộp tăng mạnh.
Việt Nam hiện đang canh tác ba giống dứa phổ biến: Queen, Cayenne và MD2. Trong đó, giống dứa MD2, với năng suất và chất lượng vượt trội, chiếm tới 50-55% thị phần dứa toàn cầu và 70-75% thị phần tại thị trường châu Âu. Báo cáo phân tích chi tiết hiệu quả kinh tế của việc trồng dứa trên quy mô 1 ha trong chu kỳ 18 tháng, cho thấy lợi nhuận từ cây dứa cao hơn nhiều so với các loại cây trồng khác. Cụ thể, lợi nhuận của dứa MD2 có thể lên tới hơn 700 triệu đồng, cao hơn gấp nhiều lần so với cây lúa, sắn và keo.
Dây chuyền chế biến dứa xuất khẩu của DOVECO.
Mặc dù có nhiều lợi thế về khí hậu và thổ nhưỡng, ngành dứa Việt Nam vẫn đối mặt với những điểm yếu và thách thức. Báo cáo chỉ ra rằng diện tích trồng các giống dứa chất lượng cao như Cayenne và MD2 còn thấp, chuỗi liên kết sản xuất yếu, và thương hiệu dứa Việt chưa có vị thế nổi bật trên thị trường quốc tế.
Để giải quyết những vấn đề này, TS. Đinh Cao Khuê đã đề xuất một số giải pháp trọng tâm: Quy hoạch các vùng trồng dứa tập trung, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào khâu chọn giống năng suất cao và cơ giới hóa sản xuất. Đồng thời, cần đầu tư mạnh mẽ vào công nghệ chế biến sau thu hoạch để sản xuất các sản phẩm như nước ép, dứa đóng hộp, và dứa đông lạnh.
Cuối cùng, việc đẩy mạnh áp dụng các tiêu chuẩn chất lượng như VietGAP và GlobalGAP, cùng với mở rộng thị trường xuất khẩu, sẽ giúp ngành dứa Việt Nam phát triển bền vững và khẳng định vị thế trên trường quốc tế.
9 giờ 10 phút
Chuyển đổi cơ cấu giống chè mới đến năm 2040 cho vùng Bắc Trung bộ
TS. Nguyễn Văn Toàn, nguyên Viện trưởng Viện KHKT Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc, nhấn mạnh, vùng chè Bắc Trung bộ chủ yếu tập trung tại Nghệ An và Hà Tĩnh, diện tích khoảng gần 10 ngàn hecta, năng suất bình quân khoảng 10 tấn/ha.
TS. Nguyễn Văn Toàn, nguyên Viện trưởng Viện KHKT Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc, đề xuất kế hoạch chuyển đổi cơ cấu giống chè mới đến năm 2040 cho vùng Bắc Trung bộ.
Tại hai tỉnh, các giống chè chủ lực là LDP2, PH1 và LDP1; 3 giống PH8, CNS-831 và TRI 5.0 vừa có năng suất cao, vừa có khả năng chế biến được sản phẩm chè xanh, chè đen đạt chất lượng tốt, khả năng chịu hạn, nóng tốt.
Với 31 giống chè chọn tạo, Viện KHKT Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc đề xuất cơ cấu chuyển đổi nhóm giống chế biến chè xanh cao cấp như Hương Bắc Sơn, VN15, Kim Tuyên với diện tích 10-15%; nhóm giống cho chế biến chè xanh chất lượng tốt như LCT1, PH8, CNS-831, TRI 5.0, với cơ cấu diện tích 30-35%; và nhóm giống cho chế biến chè đen như TRI 5.0, PH8, CNS-831 và diện tích chè Shan của tỉnh Nghệ An.
Các giống chè mới phát triển ở vùng Bắc Trung bộ được trồng, chăm sóc theo quy trình hiện hành, song cần phải thực hiện một số kỹ thuật đặc thù: trồng hệ thống cây che bóng 3 tầng (tầng cao, tầng trung và tầng thấp); cây chè trồng mới phải có cây che bóng tạm thời. Vườn chè cần hệ thống tưới nước, thiết lập ngay từ khi trồng mới nhất là diện tích trồng nhóm giống chế biến sản phẩm chè cao cấp và ủ gốc thường xuyên để giữ ẩm.
Vùng chè Bắc Trung bộ chủ yếu tại Nghệ An và Hà Tĩnh (Trong ảnh là Đảo chè Thanh Chương, Nghệ An).
“Những kỹ thuật canh tác đặc thù và quy trình chế biến nghiêm ngặt trên là yêu cầu bắt buộc đối với việc phát triển các giống chè cao cấp mới”, TS Nguyễn Văn Toàn chia sẻ.
Về phát triển thị trường, TS. Toàn nhấn mạnh tiềm năng phát triển sản phẩm chè xanh cao cấp để đáp ứng nhu cầu nội địa và xuất khẩu. Thông qua việc sử dụng nguyên liệu từ các giống chè LDP1 và chè Shan hiện có, vùng Bắc Trung bộ có thể tối ưu hóa nguồn nguyên liệu và mở rộng thị trường tiêu thụ cho sản phẩm chè.
9 giờ 00 phút
Nỗ lực phục hồi từ gốc vùng trồng cam, bưởi đặc sản
Từng là vùng sản xuất cây ăn quả có múi chủ lực của miền Bắc, các tỉnh Bắc Trung bộ như Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Huế hiện đối mặt với tình trạng suy thoái nghiêm trọng. Diện tích trồng cam tại Nghệ An giảm từ hơn 5.400 ha xuống còn 2.500 ha; hàng trăm hecta bưởi Thanh Trà ở Huế bị chết trắng. Nhiều vườn cây không cho thu hoạch, trái rụng sớm, chất lượng kém, khiến người dân nản lòng.
TS Nguyễn Thị Bích Ngọc, Phó Viện trưởng Viện Bảo vệ thực vật, cho biết, nhiều gói kỹ thuật phục hồi hoàn chỉnh giống cây có múi đã được Viện hoàn thành, sẵn sàng chuyển giao cho các địa phương.
Theo Viện Bảo vệ thực vật, nguyên nhân chính là do giống cây trồng kém chất lượng, đất đai bị thoái hóa vì lạm dụng phân bón hóa học, và dịch bệnh như vàng lá Greening hoành hành. Cùng với đó, mô hình sản xuất nhỏ lẻ, thiếu liên kết chuỗi và đầu ra bấp bênh khiến người dân không dám đầu tư cải tạo vườn. Biến đổi khí hậu càng làm tình hình trầm trọng hơn khi cây trồng dễ bị stress sinh lý và nhiễm sâu bệnh.
"Một đời người chỉ 2-3 lần trồng lại cây có múi. Cá biệt, nhiều cây có múi có tuổi đời đến 40 năm", TS Nguyễn Thị Bích Ngọc, Phó Viện trưởng Viện Bảo vệ thực vật, chia sẻ về tầm quan trọng của giống cây có múi.
Để phục hồi, Viện đề xuất nhiều giải pháp đồng bộ như, xây dựng hệ thống nhân giống sạch bệnh, phục tráng giống bản địa bằng kỹ thuật vi ghép; áp dụng canh tác hữu cơ, tuần hoàn, cải tạo đất, sử dụng vi sinh vật có ích và phân hữu cơ; kiểm soát dịch bệnh bằng quản lý tổng hợp IPM, kết hợp chẩn đoán nhanh và sử dụng chế phẩm sinh học.
Về tổ chức sản xuất, bà Ngọc đề xuất quy hoạch lại vùng trồng, thúc đẩy mô hình canh tác đạt chuẩn VietGAP, phát triển mã số vùng trồng và đẩy mạnh chuyển đổi số trong cảnh báo sâu bệnh và quản lý kỹ thuật.
Nhiều gói kỹ thuật phục hồi hoàn chỉnh đã được Viện hoàn thành, sẵn sàng chuyển giao cho các địa phương. "Hy vọng Bắc Trung bộ sớm trở lại vị thế trung tâm sản xuất cây ăn quả có múi chất lượng cao, hướng đến xuất khẩu và phát triển bền vững", TS Ngọc bày tỏ.
8 giờ 50 phút
25 tấn gạo, 2 tấn giống ngô gửi tới bà con vùng lũ Nghệ An
Trong khuôn khổ diễn đàn, lãnh đạo tỉnh Nghệ An, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh, đại diện Ban biên tập Báo Nông nghiệp và Môi trường… đã chứng kiến việc giao nhận phần quà gửi tới bà con vùng lũ lụt.
Tổng 25 tấn gạo và 2 tấn hạt giống ngô được gửi tới bà con vùng lũ Nghệ An để ổn định cuộc sống và khắc phục sản xuất.
Hoạt động “Trao quà hỗ trợ cho đồng bào Nghệ An” là chương trình ý nghĩa do Báo Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với các đơn vị tổ chức, với mong muốn sẻ chia khó khăn, tiếp thêm động lực để bà con vùng lũ sớm ổn định cuộc sống và khắc phục hậu quả thiên tai.
Tại đây, Công ty TNHH Đầu tư Ninh Long trao 10 tấn gạo; Tập đoàn Quế Lâm trao 5 tấn gạo; Tập đoàn Giống cây trồng Việt Nam - Vinaseed, trao phần quà gồm 5 tấn gạo và 2 tấn hạt giống ngô, tổng giá trị 300 triệu đồng, gửi tới đồng bào vùng lũ; Công ty Cổ phần Thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao trao phần quà 5 tấn gạo.
Như vậy là chương trình đã nhận ủng hộ tổng 25 tấn gạo và 2 tấn hạt giống ngô được gửi tới bà con vùng lũ Nghệ An để ổn định cuộc sống và khắc phục sản xuất. Sự chung tay này không chỉ là hỗ trợ vật chất mà còn là nguồn động viên to lớn giúp bà con sớm khắc phục hậu quả thiên tai, ổn định cuộc sống.
8 giờ 40 phút
Nghệ An xây dựng lộ trình phát triển nông nghiệp, vượt qua thách thức thiên tai
Tại Diễn đàn Kết nối sản xuất và tiêu thụ nông sản các tỉnh Bắc Trung bộ, ông Nguyễn Văn Đệ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An, đã trình bày một bức tranh toàn diện về tình hình kinh tế nông nghiệp của địa phương.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An Nguyễn Văn Đệ cho biết, tỉnh xác định nông nghiệp tiếp tục đóng vai trò quan trọng.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An đặc biệt nhấn mạnh đến những thiệt hại mà hoàn lưu bão số 3 đã gây ra. Hàng nghìn ngôi nhà bị sập, vùi lấp, hàng nghìn hecta lúa, cây trồng bị tàn phá và nhiều gia súc, gia cầm bị cuốn trôi, ước tính tổng giá trị thiệt hại về kinh tế lên đến 3.623 tỷ đồng. Tuy nhiên, với sự hỗ trợ kịp thời từ Chính phủ, các bộ, ban, ngành Trung ương cùng sự chỉ đạo sát sao của lãnh đạo tỉnh, người dân Nghệ An đang dốc toàn lực để khắc phục hậu quả, sớm ổn định cuộc sống và sản xuất.
Về định hướng phát triển, Nghệ An xác định nông nghiệp tiếp tục đóng vai trò quan trọng. Các sản phẩm chủ lực như chè, dứa và cây ăn quả có múi (cam, chanh, quýt, bưởi) sẽ được ưu tiên phát triển. Hiện tại, tỉnh đang sở hữu hàng nghìn hecta diện tích các loại cây trồng này và đặt mục tiêu mở rộng diện tích trồng dứa tập trung lên khoảng 5.000 ha. Tỉnh sẽ áp dụng các tiêu chuẩn chất lượng cao như VietGAP, GlobalGAP nhằm xây dựng các vùng nguyên liệu an toàn, đáp ứng nhu cầu cả thị trường trong nước và quốc tế.
Tuy vậy, ông Đệ cũng chỉ ra những hạn chế còn tồn tại. Sản xuất nông nghiệp của tỉnh vẫn chưa có quy mô lớn và chuỗi giá trị ổn định. Các sản phẩm chế biến còn thô sơ, giá trị thấp và hoạt động tiêu thụ còn thiếu bền vững, dẫn đến tình trạng tồn đọng nông sản cục bộ. Bên cạnh đó, việc xây dựng thương hiệu, cải thiện mẫu mã sản phẩm và liên kết vùng vẫn còn nhiều hạn chế.
Để khắc phục những vấn đề này, Nghệ An đã đề ra một chiến lược gồm nhiều giải pháp trọng tâm. Tỉnh sẽ tập trung quy hoạch vùng sản xuất, thực hiện tích tụ đất, xác định các sản phẩm chủ lực để mở rộng sản xuất theo chuỗi giá trị và nâng cao chất lượng.
Ngoài ra, việc thu hút đầu tư vào chế biến sâu, xây dựng thương hiệu sản phẩm và tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại cũng sẽ được đẩy mạnh.
Ông Nguyễn Văn Đệ bày tỏ hy vọng diễn đàn sẽ là cơ hội để Nghệ An học hỏi kinh nghiệm, đồng thời kêu gọi sự hợp tác, hỗ trợ từ các Bộ, ban, ngành Trung ương, các doanh nghiệp và nhà phân phối để thúc đẩy nền nông nghiệp của tỉnh phát triển mạnh mẽ hơn trong tương lai.
8 giờ 30 phút
Nông sản lợi thế Bắc Trung bộ: Từ sản xuất đến thị trường toàn cầu
Phát biểu khai mạc Diễn đàn, ông Nguyễn Ngọc Thạch, Tổng Biên tập Báo Nông nghiệp và Môi trường, cho biết, chương trình được tổ chức tại Nghệ An - trung tâm vùng Bắc Trung bộ đầy tiềm năng, với mục tiêu làm rõ các giải pháp nhằm gia tăng giá trị cho các sản phẩm nông sản lợi thế như dứa, chè, cây ăn quả có múi, hướng tới một nền nông nghiệp liên kết chuỗi, bền vững, xanh và hiện đại.
Ông Nguyễn Ngọc Thạch, Tổng Biên tập Báo Nông nghiệp và Môi trường, phát biểu khai mạc diễn đàn.
Theo ông Thạch, với vai trò là cơ quan Thường trực Tổ Diễn đàn Nông sản 970 - một sáng kiến quan trọng của Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhằm kết nối 4 nhà: Nhà nước - nhà nông - nhà khoa học - nhà doanh nghiệp, Báo Nông nghiệp và Môi trường trong những năm qua đã tổ chức hàng trăm diễn đàn trên khắp mọi miền đất nước.
“Từ Tây Bắc đến Tây Nguyên, từ vùng ĐBSCL đến Duyên hải miền Trung, Diễn đàn Nông sản 970 đã trở thành không gian kết nối thực chất, nơi tiếng nói của người sản xuất gặp được sự chia sẻ của nhà quản lý, nơi nông sản địa phương được mở ra cánh cửa hội nhập và phát triển thị trường”, Tổng Biên tập Báo Nông nghiệp và Môi trường chia sẻ.
Nhận định về tình hình sản xuất và tiêu thụ nông sản các tỉnh Bắc Trung bộ, ông Nguyễn Ngọc Thạch cho biết, khu vực có diện tích lớn trồng dứa, chè, cây có múi, đang từng bước hình thành các vùng nguyên liệu lớn gắn với sơ chế, chế biến, tạo nền tảng hình thành chuỗi giá trị bền vững.
Dứa Đồng Giao ở Hà Tĩnh, cam Vinh, bưởi Phúc Trạch, Thanh Trà... tất cả không chỉ là sản phẩm nông sản mà còn là tài sản văn hóa, mang đậm bản sắc vùng miền. Những mô hình như liên kết sản xuất dứa giữa người dân và doanh nghiệp tại Hà Tĩnh nơi mà mỗi hecta dứa có thể đem về 500 - 700 triệu đồng/năm, đang cho thấy tiềm năng rất lớn và hiện hữu.
Dứa Đồng Giao ở Hà Tĩnh không chỉ là sản phẩm nông sản mà còn là tài sản văn hóa, mang đậm bản sắc vùng miền. Ảnh minh họa.
Tuy nhiên, song song với tiềm năng là không ít thách thức như biến đổi khí hậu, thiên tai bất thường, dịch bệnh, suy thoái đất, chi phí logistics cao, thiếu kho lạnh, hạn chế trong chế biến sâu và thị trường tiêu thụ chưa ổn định…
“Tất cả đang đòi hỏi chúng ta phải thay đổi mạnh mẽ hơn nữa tư duy từ sản xuất sang kinh tế nông nghiệp, coi nông sản là sản phẩm hàng hóa cần định danh, định chuẩn và định hướng thị trường rõ ràng”, ông Thạch nhấn mạnh.
Theo đó, Diễn đàn Kết nối sản xuất và tiêu thụ nông sản các tỉnh vùng Bắc Trung bộ kỳ vọng sẽ là nơi để lắng nghe những ý kiến quý báu từ nhiều góc nhìn - từ quản lý Nhà nước đến nhà khoa học, từ chuyên gia thị trường đến doanh nghiệp chế biến, từ người nông dân đến các tổ chức xúc tiến thương mại.
Những nội dung cốt lõi sẽ xoay quanh các chủ đề: Xây dựng vùng nguyên liệu quy mô, đạt chuẩn. Đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số trong sản xuất và tiêu thụ. Phát triển công nghiệp chế biến sâu và logistics nông sản. Nâng cao năng lực xúc tiến thương mại và mở rộng thị trường xuất khẩu.
“Tôi tin tưởng, qua các ý kiến được ghi nhận, các cơ quan quản lý sẽ có thêm luận cứ khoa học và thực tiễn để xây dựng chính sách phù hợp, đồng thời góp phần hình thành những liên kết nông nghiệp kiểu mới, nơi mỗi người dân, mỗi HTX, mỗi doanh nghiệp đều là một mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị nông sản Bắc Trung bộ”, ông Thạch bày tỏ, đồng thời hy vọng với tinh thần trách nhiệm, cởi mở, chia sẻ và xây dựng, Diễn đàn sẽ góp phần mở ra hướng đi mới, củng cố niềm tin và đồng hành cùng người nông dân Bắc Trung bộ trên con đường xây dựng nền nông nghiệp xanh, hiện đại, có giá trị gia tăng cao, có chỗ đứng xứng đáng trên bản đồ nông sản toàn cầu.

















