| Hotline: 0983.970.780

Định hình hệ sinh thái kinh tế biển hiện đại cho giai đoạn phát triển mới

Thứ Sáu 12/12/2025 , 13:07 (GMT+7)

Phát biểu kết thúc Diễn đàn Phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam năm 2025, Bộ trưởng Trần Đức Thắng nhấn mạnh yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng biển theo hướng khoa học, hiện đại và bền vững, trên nền tảng thể chế và công nghệ được hoàn thiện đồng bộ.

Diễn đàn Phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam năm 2025 diễn ra tại Bãi Cháy, tỉnh Quảng Ninh trong hai ngày 12-13/12, đúng vào thời điểm Chính phủ tiến hành sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết 26/NQ-CP về triển khai Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam. Sự kiện được đánh giá là dấu mốc quan trọng, góp phần định hướng những bước đi tiếp theo trong phát triển kinh tế biển quốc gia.

Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà phát biểu chỉ đạo tại Diễn đàn Phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam năm 2025, chiều 12/12.

Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà phát biểu chỉ đạo tại Diễn đàn Phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam năm 2025, chiều 12/12.

Trong khuôn khổ diễn đàn, các đại biểu tập trung bàn thảo những chủ đề mang tính đột phá, phản ánh xu hướng phát triển mới của kinh tế biển. Nổi bật là vấn đề: vốn tự nhiên và tín chỉ carbon xanh, nguồn lực ngày càng quan trọng trong bối cảnh kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn trở thành yêu cầu chung của thế giới; Định hướng không gian phát triển kinh tế biển Việt Nam gắn với sắp xếp, điều chỉnh đơn vị hành chính; Khai thác không gian biển dưới góc độ kinh tế biển xanh; Cơ hội và thách thức để thu hút tài chính quốc tế cho các dự án điện gió ngoài khơi tại Việt Nam và Phát triển các cụm nuôi biển - Giải pháp đột phá cho nuôi biển Việt Nam.

Lãnh đạo Chính phủ sẽ tham dự và phát biểu chỉ đạo tại diễn đàn, nhấn mạnh những nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn tới, hướng tới mục tiêu khai thác hiệu quả tiềm năng biển, thúc đẩy kinh tế biển phát triển bền vững, đóng góp ngày càng lớn cho tăng trưởng quốc gia.

Hình ảnh một số đại biểu trong nước và quốc tế tham dự Diễn đàn:

Đại sứ Na Uy tại Việt Nam Hilde Solbakken.

Đại sứ Na Uy tại Việt Nam Hilde Solbakken.

Ông Nico Barito, Đặc phái viên của Tổng thống nước Cộng hòa Seychelles tại ASEAN.

Ông Nico Barito, Đặc phái viên của Tổng thống nước Cộng hòa Seychelles tại ASEAN.

Ông Mark Hutchinson - Chủ tịch, Nhóm công tác khu vực Đông Nam Á, Hội đồng Năng lượng gió toàn cầu (GWEC).

Ông Mark Hutchinson - Chủ tịch, Nhóm công tác khu vực Đông Nam Á, Hội đồng Năng lượng gió toàn cầu (GWEC).

Phó Tổng Biên tập Báo Nông nghiệp và Môi trường Lý Thị Hồng Điệp (ngoài cùng bên trái).

Phó Tổng Biên tập Báo Nông nghiệp và Môi trường Lý Thị Hồng Điệp (ngoài cùng bên trái).

 

Tất cảTổng thuật

17h00

Định hình hệ sinh thái kinh tế biển hiện đại cho giai đoạn phát triển mới

Phát biểu kết thúc, Bộ trưởng Trần Đức Thắng cho biết, Diễn đàn Phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam năm 2025 đã khép lại với nhiều dấu ấn quan trọng. Các ý kiến tại diễn đàn một lần nữa khẳng định Việt Nam là quốc gia sở hữu nhiều lợi thế vượt trội để phát triển kinh tế biển với hơn 1 triệu km² vùng biển và nguồn tài nguyên phong phú. Bước vào giai đoạn phát triển mới, yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế biển theo hướng khoa học, hiện đại và bền vững trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

doi-moi-tu-duy-de-dan-dat-kinh-te-bien-xanh-trong-ky-nguyen-moi-173332_381

Bộ trưởng Trần Đức Thắng phát biểu kết thúc Diễn đàn Phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam năm 2025, chiều 12/12.

Những tham luận gửi tới diễn đàn đã phác họa rõ những không gian phát triển mới mở ra từ khoa học - công nghệ biển, năng lượng tái tạo ngoài khơi, dữ liệu đại dương và các ngành dịch vụ biển chất lượng cao. Song song với đó, các chuyên gia cũng chỉ rõ những thách thức lớn đang đặt ra như suy giảm tài nguyên, tác động ngày càng tinh vi của biến đổi khí hậu, cùng yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường biển.

Trên cơ sở trao đổi và phân tích, diễn đàn thống nhất về định hướng xây dựng hệ sinh thái kinh tế biển hiện đại, vận hành trên nền tảng thể chế, chính sách, khoa học - công nghệ, hạ tầng và nguồn nhân lực được thiết kế đồng bộ, liên kết chặt chẽ. Từ đó, 4 định hướng trọng tâm được nêu rõ.

Thứ nhất, tổ chức lại không gian phát triển kinh tế biển theo hướng hài hòa giữa bảo tồn và phát triển, phù hợp đặc thù từng vùng biển và từng địa phương, đồng thời tiếp cận các chuẩn mực quốc tế.

Thứ hai, phát triển mạnh các ngành kinh tế biển mới có giá trị gia tăng cao, đặc biệt là năng lượng tái tạo ngoài khơi, dịch vụ logistics biển, công nghiệp công nghệ cao ven biển, thị trường tín chỉ carbon, nuôi biển công nghệ cao, kinh tế tuần hoàn và du lịch biển chất lượng cao.

Thứ ba, xây dựng thể chế quản lý biển hiện đại dựa trên dữ liệu, gắn với việc thúc đẩy liên kết vùng ven biển nhằm đảm bảo phát triển bền vững lâu dài.

Thứ tư, khuyến khích và phát huy vai trò của khu vực tư nhân thông qua môi trường đầu tư minh bạch, ổn định và thuận lợi.

Theo đó, các kết quả tại diễn đàn sẽ sớm được cụ thể hóa trong các chương trình hành động. Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết sẽ phối hợp chặt chẽ với Ban Chính sách Chiến lược Trung ương, các bộ, ngành và địa phương để triển khai đồng bộ các nhiệm vụ tiếp theo. Năm 2026, Bộ sẽ trình Chính phủ và Quốc hội sửa đổi Luật Tài nguyên, Môi trường biển và Hải đảo, một bước đi quan trọng nhằm hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Cùng với đó là quá trình tổng kết Nghị quyết 36 của Ban Chấp hành Trung ương.

Diễn đàn cũng ghi nhận sự kết nối ban đầu đầy triển vọng giữa cộng đồng doanh nghiệp, các nhà khoa học và tổ chức quốc tế trong nghiên cứu, hợp tác và định hướng phát triển kinh tế biển trong tương lai gần. Bộ Nông nghiệp và Môi trường khẳng định sẽ tiếp thu đầy đủ các ý kiến và sẵn sàng đồng hành với từng đề xuất cụ thể, đặc biệt là những nhiệm vụ cần triển khai sớm.

Nhân dịp này, Ban Tổ chức gửi lời cảm ơn đến Ban Chính sách Chiến lược Trung ương, UBND tỉnh Quảng Ninh, các tổ chức quốc tế, doanh nghiệp và các cơ quan báo chí đã phối hợp chặt chẽ trong quá trình chuẩn bị và tổ chức sự kiện.

Khép lại tại vùng đất giàu tiềm năng biển Quảng Ninh, diễn đàn được kỳ vọng sẽ tiếp tục lan tỏa tinh thần đổi mới và trách nhiệm, góp phần định hình con đường phát triển bền vững cho kinh tế biển Việt Nam trong những năm tới.

16h55

Muốn làm chủ kinh tế biển, trước hết phải làm chủ công nghệ

GS.TS Mai Trọng Nhuận, nguyên Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, cho rằng, muốn phát triển kinh tế biển bền vững, khâu đầu tiên phải bắt đầu từ điều tra cơ bản và quan trọng nhất là phải chứng minh được tiềm năng.

Khi dữ liệu nền tảng chỉ ra rõ những nguồn lực như khoáng sản, tài nguyên nước hay đất đai, biển, bước tiếp theo là giai đoạn tìm kiếm, thăm dò và khai thác sẽ thuộc về doanh nghiệp. Mô hình ấy, theo ông, vận hành với quy luật: khi tiềm năng đủ hấp dẫn như dầu khí, doanh nghiệp sẽ tự tìm đến, ngân hàng sẽ sẵn sàng đầu tư và nhà nước khi đó đã có dữ liệu đủ tin cậy để định hướng.

Nhập chú thích ảnh

Nuôi biển quy mô công nghiệp tại tỉnh Khánh Hòa.

GS.TS Mai Trọng Nhuận cũng cho rằng dữ liệu phục vụ phát triển kinh tế biển thường gồm hai tầng. Đó là tầng điều tra cơ bản do Nhà nước đầu tư, tạo nền tảng chung và tầng thăm dò, khai thác do doanh nghiệp thực hiện dựa trên những thông tin đã được kiểm chứng.

Nhấn mạnh muốn làm chủ kinh tế biển, trước hết phải làm chủ công nghệ, GS.TS Mai Trọng Nhuận nhìn nhận, Việt Nam vẫn phụ thuộc vào công nghệ lõi của nước ngoài nên chưa thể tự chủ hoàn toàn. Từ điều tra, khảo sát đến tìm kiếm, thăm dò và khai thác tài nguyên biển, tất cả đều đòi hỏi hệ thống công nghệ do chính Việt Nam phát triển.

“Quá trình học hỏi quốc tế là cần thiết nhưng không thể kéo dài mãi. Đến một thời điểm, quốc gia phải tự tạo ra công nghệ lõi mới đủ năng lực thích ứng với biến động toàn cầu”, chuyên gia bày tỏ.

GS.TS Mai Trọng Nhuận nhấn mạnh thêm, kinh tế biển không thể tách rời yêu cầu bảo vệ môi trường. Ngay cả hoạt động điều tra, thăm dò ban đầu cũng phải tính đến tác động sinh thái. Doanh nghiệp, trong sản xuất và kinh doanh, cần vận hành theo hướng kinh tế tuần hoàn và carbon thấp. Nhà nước sẽ đầu tư cho dữ liệu điều tra cơ bản, doanh nghiệp đầu tư cho thăm dò, khai thác và cả hai cùng phối hợp để hình thành một nền tảng dữ liệu biển quốc gia hay “bản sao số” của không gian biển Việt Nam.

Theo ông, chỉ khi tiếp cận toàn bộ chuỗi hoạt động biển bằng tư duy xanh, tuần hoàn và carbon thấp, đồng thời đưa người Việt làm chủ công nghệ biển, đất nước mới có thể trở thành một quốc gia mạnh về biển và giàu từ biển.

16h45

Tham gia phiên đối thoại, GS Trần Thanh Hải trả lời: Câu hỏi thứ nhất là Nhà nước cần làm gì với cơ sở dữ liệu biển và liệu cơ sở dữ liệu đó có thể được xem như một loại tài sản hay không. Theo tôi hiểu, để quản lý, định hướng phát triển và xây dựng các kế hoạch về biển, điều kiện tiên quyết là phải có dữ liệu tin cậy về đáy biển và tài nguyên biển.

doi-moi-tu-duy-de-dan-dat-kinh-te-bien-xanh-trong-ky-nguyen-moi-171725_253

Ông Trần Thanh Hải, Hiệu trưởng Trường ĐH Mỏ - Địa chất tham gia đối thoại.

Nếu không có dữ liệu, chúng ta không thể hoạch định chính sách hay tạo cơ sở cho doanh nghiệp đầu tư. Điều này là nguyên tắc chung của mọi quốc gia trên thế giới.Như vậy, Nhà nước bắt buộc phải đầu tư để xây dựng cơ sở dữ liệu cơ bản, đủ tin cậy, phục vụ cho hoạch định phát triển, bảo vệ tài nguyên và bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Thực tế, Việt Nam hiện nay cũng đang triển khai công tác điều tra cơ bản về tài nguyên - khoáng sản tương tự các nước. Thông lệ quốc tế cho thấy Nhà nước bỏ kinh phí, giao các chương trình, dự án cho đội ngũ nhà khoa học thực hiện và nghiệm thu kết quả. Một số nước như Mỹ, Canada tận dụng tối đa nguồn lực khoa học trong các dự án điều tra cơ bản.

Ở Việt Nam, chúng ta có các cơ quan chuyên trách thực hiện công việc này. Tuy nhiên, để huy động tối đa trí tuệ, nguồn nhân lực và công nghệ, cần sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước, trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp. Điều này đã được thể hiện trong Nghị quyết 71 và các nghị quyết gần đây của Bộ Chính trị. Vấn đề còn lại là mức độ quyết tâm đầu tư của Nhà nước để xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý, hoạch định chính sách, khai thác và bảo vệ biển bền vững.

Về câu hỏi thứ hai của Giáo sư Mỹ: khảo sát, điều tra tài nguyên biển hoàn toàn khác với trên đất liền. Theo thông tin chúng tôi được biết, mức độ khảo sát hiện nay mới chỉ ở mức sơ lược. Đề án gần đây nhất khảo sát đến độ sâu 100 m nước và lập bản đồ tỷ lệ 1/500.000, nhưng chủ yếu mang tính định tính. Các số liệu định lượng như mẫu vật ở các tầng sâu gần như chưa có. Ngoài dữ liệu dầu khí tại các lô đang được tìm kiếm, thăm dò, khai thác, vốn khá đầy đủ thì ở các khu vực còn lại, dữ liệu địa chất đáy biển và khoáng sản biển hầu như chưa có.

doi-moi-tu-duy-de-dan-dat-kinh-te-bien-xanh-trong-ky-nguyen-moi-171753_57

Giáo sư, Tiến sỹ, Nhà giáo ưu tú Võ Chí Mỹ, Hội Trắc địa - Bản đồ - Viễn thám Việt Nam đặt câu hỏi với các diễn giả.

Gần đây nhất, cụm đề tài của chúng ta lần đầu tiên thu thập được một số mẫu kết hạch sắt mangan ở vùng biển sâu Tây Nam Việt Nam, với khoảng 9 mẫu được đưa về nghiên cứu. Đây là những dữ liệu cơ bản đầu tiên, được thực hiện với kinh phí lớn và sự hỗ trợ tàu khảo sát.

Do đó, phải khẳng định rằng Việt Nam chưa có số liệu định lượng đáng tin cậy về tài nguyên, khoáng sản biển sâu, ngoại trừ các khu vực dầu khí đã được thăm dò và khai thác.

Ngoài ra, Việt Nam mới điều tra cơ bản đạt khoảng 38% diện tích, trong khi Nghị quyết 36 đặt mục tiêu đạt 50%. Khó khăn lớn nhất hiện nay là điều tra biển sâu đòi hỏi công nghệ phức hợp, mức đầu tư rất lớn. Ở biển, không thể chỉ dùng một con tàu hay một thiết bị cho một mục đích, mà cần một hệ sinh thái thiết bị phục vụ đồng thời nhiều nhiệm vụ mới đáp ứng được yêu cầu và chi phí thực tế.

16h30

Cần tầm nhìn dài hạn, công nghệ phù hợp và lộ trình riêng để khai thác bền vững nguồn lợi biển

Theo ông Lê Mạnh Cường, Phó Tổng Giám đốc PetroVietnam, Việt Nam có diện tích vùng biển và đáy biển gấp khoảng ba lần diện tích đất liền: “Nếu chúng ta không khai thác hiệu quả không gian biển này thì trong tương lai rất khó thúc đẩy kinh tế”.

doi-moi-tu-duy-de-dan-dat-kinh-te-bien-xanh-trong-ky-nguyen-moi-171519_123

Ông Lê Mạnh Cường, Phó Tổng Giám đốc PetroVietnam, phát biểu trong phiên đối thoại thuộc khuôn khổ Diễn đàn.

Ngành dầu khí là ví dụ điển hình: từ con số “0”, sau 50 năm thăm dò và khai thác dưới đáy biển ngành đã từng bước làm chủ nhiều công đoạn quan trọng. Thành tựu này có được nhờ chiến lược đúng đắn, nguồn lực được đầu tư bài bản với quyết tâm và nỗ lực rất lớn.

Đối với các ngành kinh tế biển khác, ngoài dầu khí, nhiều loại tài nguyên dưới đáy biển và khoáng sản biển được phân bố trong các tầng trầm tích ở độ sâu lớn, đòi hỏi những công nghệ hoàn toàn khác nhau. Việc phát triển các ngành này cần tầm nhìn dài hạn, công nghệ phù hợp và lộ trình riêng để có thể khai thác bền vững nguồn lợi biển của Việt Nam.

Nói về yêu cầu đáp ứng các tiêu chuẩn của Petrovietnam, ông Lê Mạnh Cường nhấn mạnh các chính sách hỗ trợ từ Chính phủ giữ vai trò then chốt, giúp tạo môi trường thuận lợi để nguồn lực quốc tế vào Việt Nam đồng thời tận dụng được sự tham gia của doanh nghiệp trong nước vào chuỗi cung ứng.

16h20

TS. Mark Hutchinson - Chủ tịch, Nhóm công tác khu vực Đông Nam Á, Hội đồng Năng lượng gió toàn cầu (GWEC). - hoan nghênh việc Quốc hội Việt Nam thông qua các nghị quyết ngày 11/12. Đây là nỗ lực rất đáng ghi nhận của Quốc hội và Chính phủ Việt Nam nhằm xây dựng một cơ chế mang tính đột phá, phù hợp với các mục tiêu được nêu trong Nghị quyết 70 của Bộ Chính trị.

hoan-thien-quan-tri-bien-de-thuc-day-tang-truong-xanh-va-thinh-vuong-quoc-gia-165641_178

TS. Mark Hutchinson - Chủ tịch, Nhóm công tác khu vực Đông Nam Á, Hội đồng Năng lượng gió toàn cầu (GWEC) - chia sẻ ý kiến trong phiên đối thoại thuộc khuôn khổ Diễn đàn.

Về vấn đề chia sẻ rủi ro, TS. Mark Hutchinson cho rằng cách tốt nhất là đối thoại trực tiếp với ngành công nghiệp. Cụ thể, cần có sự hợp tác giữa các bên: Chính phủ, Bộ Công Thương (MoIT), Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), cùng với các ngân hàng trong nước và quốc tế. Sau đó, tất cả cùng tìm ra một giải pháp được thiết kế riêng cho Việt Nam.

“Mặc dù có rất nhiều giải pháp trên toàn cầu, nhưng chúng phải được điều chỉnh để phù hợp với đặc thù của đất nước. Để làm được điều đó, Chính phủ và doanh nghiệp cần xây dựng sự thấu hiểu và tin tưởng lẫn nhau, để mỗi bên nắm rõ những hạn chế của bên còn lại. Đây là cách tốt nhất để tìm ra một giải pháp chính trị khả thi trong thời gian tới. GWEC và các thành viên luôn đồng hành cùng Việt Nam, cũng như sẵn sàng đối thoại với Chính phủ và các bên liên quan để sớm phát triển các giải pháp khả thi”, ông cho biết.

16h15

5 nguyên tắc cốt lõi để kinh tế biển trở thành cực tăng trưởng xanh, bền vững

Chia sẻ tại Phiên đối thoại, GS.TS Mai Trọng Nhuận, nguyên Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, cho rằng để các trung tâm kinh tế biển trở thành cực tăng trưởng theo hướng xanh và bền vững, cần vận hành trên 5 nguyên tắc cốt lõi.

hoan-thien-quan-tri-bien-de-thuc-day-tang-truong-xanh-va-thinh-vuong-quoc-gia-165037_57

GS.TS Mai Trọng Nhuận, nguyên Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, phát biểu trong phiên đối thoại thuộc khuôn khổ Diễn đàn.

Nguyên tắc thứ nhất là tuân thủ giới hạn sinh thái. Mọi hoạt động kinh tế, xã hội và hạ tầng phải nằm trong sức chịu tải và khả năng phục hồi của hệ sinh thái biển - bờ. Điều này bảo đảm không xâm phạm những ngưỡng tự nhiên mang tính sống còn.

Nguyên tắc thứ hai là duy trì tính bền vững tự nhiên, xã hội và con người. Nghĩa là phát triển nhưng phải giữ được chức năng cốt lõi của tự nhiên, giá trị văn hóa - xã hội và bảo đảm an toàn, sinh kế, chất lượng sống cho người dân.

Nguyên tắc thứ ba là tích hợp đa ngành và liên kết vùng. Một trung tâm kinh tế biển chỉ phát huy hiệu quả khi kết nối tốt giữa biển và lục địa, giữa các tỉnh có biển - không có biển, và giữa các vùng với nhau. Đây cũng là nguyên tắc nền tảng của quy hoạch không gian biển hiện đại.

Nguyên tắc thứ tư là phát triển xanh, tuần hoàn, carbon thấp và chống chịu cao. Đây không chỉ là xu thế mà phải trở thành yêu cầu bắt buộc. Trung tâm kinh tế biển phải là hình mẫu của phát triển xanh, thực thi đầy đủ các tiêu chí tuần hoàn và giảm phát thải.

Nguyên tắc thứ năm là lấy khoa học - công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo làm động lực.

Theo GS.TS Mai Trọng Nhuận, cần xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo biển, trong đó có bản sao số của biển Việt Nam và các trung tâm kinh tế biển để phục vụ quản trị và quy hoạch. “Nếu vận hành theo 5 nguyên tắc này, trung tâm kinh tế biển sẽ vừa là cực tăng trưởng mới, vừa là mô hình phát triển không vượt giới hạn sinh thái, không trở thành ‘điểm nóng’ môi trường, đồng thời là hình mẫu để triển khai quy hoạch không gian biển và quản trị biển theo mô hình chính quyền hai cấp”, GS.TS Mai Trọng Nhuận nhấn mạnh.

Bên cạnh đó, chuyên gia cho rằng, một nguyên nhân khiến kinh tế biển chưa bứt phá là thể chế - chính sách hiện nay tuy có nhưng chưa phản ánh đúng đặc thù và chưa tạo ra đột phá. Vì vậy, ông Nhuận ủng hộ việc áp dụng cơ chế thử nghiệm chính sách cho phát triển kinh tế biển. Theo đó, cơ chế thử nghiệm chính sách sẽ cho phép kiểm nghiệm thực tế các mô hình mới, đặc biệt là những nguyên tắc như kinh tế xanh, tuần hoàn, carbon thấp hay giới hạn sinh thái, trước khi nhân rộng.

Theo ông, cần xây dựng ít nhất “5 cơ chế thử nghiệm chính sách” tương ứng với 5 nguyên tắc nêu trên, qua đó biến các nguyên tắc thành yêu cầu bắt buộc, có cơ chế thực thi rõ ràng và đủ sức thuyết phục. Đây sẽ là điểm khởi đầu quan trọng để tạo bước đột phá cho kinh tế biển trong giai đoạn mới.

15h45

Đổi mới tư duy để dẫn dắt kinh tế biển xanh trong kỷ nguyên mới

Phát biểu tại Diễn đàn Phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam năm 2025 diễn ra tại Quảng Ninh, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà bày tỏ sự vui mừng khi có mặt tại địa phương được xem là minh chứng sinh động cho chuyển đổi thành công từ “kinh tế nâu” sang “kinh tế xanh”. Theo ông, chính tại Quảng Ninh, trong thời điểm này, Việt Nam có thể kỳ vọng về sự mở đầu cho một giai đoạn phát triển mới, nơi kinh tế biển xanh tiếp tục được dẫn dắt bằng tư duy tiên phong.

hoan-thien-quan-tri-bien-de-thuc-day-tang-truong-xanh-va-thinh-vuong-quoc-gia-162918_373

Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà nhấn mạnh tiềm năng của Việt Nam trong lĩnh vực nuôi biển công nghệ cao kết hợp du lịch.

Phó Thủ tướng đánh giá cao nỗ lực của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, tỉnh Quảng Ninh cùng các tổ chức quốc tế, trường đại học và cơ quan nghiên cứu đã phối hợp tổ chức diễn đàn. Ông cho rằng thời điểm tổ chức hết sức phù hợp, bởi Nghị quyết 36 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển đến năm 2030, tầm nhìn 2045 đã đi vào triển khai gần 7 năm, giai đoạn thích hợp để sơ kết và đánh giá.

Khẳng định quan điểm và chủ trương của Đảng, Nhà nước về biển trong Nghị quyết 36 vẫn nguyên giá trị, Phó Thủ tướng nhấn mạnh các nguyên tắc nền tảng gồm: khẳng định vị thế và vai trò của biển; bảo đảm tự do hàng hải, hàng không; giữ vững chủ quyền; phát triển kinh tế biển bền vững; và đồng hành cùng cộng đồng quốc tế giải quyết các vấn đề biển toàn cầu.

Tuy nhiên, lãnh đạo Chính phủ cho rằng tư duy chiến lược cần được cập nhật để phù hợp bối cảnh mới, nhất là khi Việt Nam đang chuẩn bị cho Đại hội XIV. Hai xu thế chuyển đổi số và chuyển đổi xanh sẽ là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt, là nền tảng để đất nước tận dụng các thành tựu của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và vượt qua bẫy thu nhập trung bình. Ông kỳ vọng đổi mới sáng tạo và khoa học công nghệ sẽ mang lại thêm cơ hội phát triển cho người dân.

Đánh giá cao các tham luận tại diễn đàn, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà cho biết, những phân tích này là luận cứ quan trọng cho hoạch định chính sách thời gian tới. Ông nhấn mạnh, Nghị quyết 36 cần tiếp tục triển khai bền vững, đồng thời nhiệm vụ và giải pháp phải được điều chỉnh linh hoạt theo từng giai đoạn. Việc sắp xếp lại bộ máy, đơn vị hành chính trong thời gian qua đã tạo không gian mới cho phát triển dựa trên liên kết vùng, mở rộng không gian cho 34 tỉnh, kết nối thông suốt giữa vùng núi, vùng biển, vùng sâu, vùng xa và các vùng động lực phát triển.

Về kết quả hội thảo, Phó Thủ tướng đánh giá cao báo cáo của UNDP và đặc biệt quan tâm đến bộ công cụ phân tích dựa trên dữ liệu thực chứng. Ông đề nghị xem xét chuyển giao cho một cơ quan nghiên cứu của Việt Nam để vận hành như một chuẩn mực mới trong đánh giá chi phí, lợi ích tại các khu vực ven biển. Bộ công cụ này, theo ông, sẽ giúp xác định lĩnh vực ưu tiên như điện gió, nuôi biển, du lịch hay năng lượng trong bối cảnh nguồn lực phát triển chồng lấn.

Phó Thủ tướng ghi nhận bộ tiêu chí về phát triển bền vững kinh tế biển mà UNDP xây dựng, và đề nghị tổ chức này phối hợp chặt chẽ với Chính phủ Việt Nam để chuyển giao dữ liệu, công nghệ và phương pháp phân tích định lượng, nhằm hỗ trợ quá trình lựa chọn phương án phát triển tối ưu.

Ông đồng tình với các quan điểm tại diễn đàn về tính liên vùng, liên quốc gia của vấn đề biển tương tự như đại dịch Covid-19. Ô nhiễm biển, suy thoái hệ sinh thái, axit hóa đại dương, rác thải nhựa hay biến đổi khí hậu đều là thách thức toàn cầu đòi hỏi sự chung tay của quốc tế.

Bên cạnh đó, các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, còn hạn chế về công nghệ phục vụ chuyển đổi xanh, chuyển đổi số hay năng lượng tái tạo biển. Vì vậy, một cơ chế chia sẻ công nghệ và chuyển giao sáng chế dưới khuôn khổ Liên hợp quốc là hết sức quan trọng.

Phó Thủ tướng cũng đề cập tới tín chỉ carbon từ biển - nguồn tín chỉ đòi hỏi đầu tư lớn vào hệ sinh thái tương tự rừng tự nhiên. Hiện chỉ số ít tổ chức quốc tế công nhận loại tín chỉ này, và ông cho rằng cần có cơ chế giám sát, minh bạch toàn cầu để bảo đảm sự công bằng trong tiếp cận.

Về các ngành kinh tế biển, ông nhấn mạnh tiềm năng của nuôi biển công nghệ cao kết hợp du lịch và đề nghị các đối tác châu Âu, đặc biệt là Na Uy, hỗ trợ về công nghệ và cơ chế đầu tư. Đối với điện gió ngoài khơi, lĩnh vực Việt Nam có tiềm năng hơn 600 GW, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà cho rằng, cần sớm triển khai thí điểm cùng các doanh nghiệp và tổ chức tài chính, đồng thời nghiên cứu phương án chuyển đổi năng lượng gió thành hydrogen hay amoniac xanh nhằm giải quyết bài toán hạ tầng và truyền tải.

Kết thúc phát biểu, Phó Thủ tướng hoan nghênh tinh thần hợp tác tại diễn đàn và nhấn mạnh Chính phủ sẽ đặt hàng để điều chỉnh tư duy, chính sách kinh tế xanh; hoàn thiện pháp luật và cơ chế khuyến khích bảo tồn gắn với phát triển. Ông kỳ vọng sớm nhận được bản khuyến nghị ngắn gọn nhưng bao quát, chứa đựng các dự án có tầm vóc và khả thi, góp phần đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên tăng trưởng chất lượng.

Thay mặt các cơ quan chủ trì Diễn đàn, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng trân trọng cảm ơn Phó Thủ tướng đã có bài phát biểu quan trọng, chỉ đạo toàn diện và định hướng rõ ràng cho các nội dung trọng tâm về phát triển kinh tế biển Việt Nam trong thời gian tới.

Bộ trưởng khẳng định, những chỉ đạo của Phó Thủ tướng là kim chỉ nam để các cơ quan tiếp tục thúc đẩy phát triển kinh tế biển xanh; hoàn thiện thể chế, chính sách; triển khai hiệu quả Quy hoạch không gian biển quốc gia; cùng với đó là thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ cụ thể trong phát triển điện gió ngoài khơi, nuôi biển, kinh tế tuần hoàn và kinh tế carbon thấp.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng các đơn vị liên quan xin nghiêm túc tiếp thu đầy đủ các ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ, quyết liệt triển khai, bảo đảm đồng bộ, hiệu quả, sớm mang lại những kết quả tốt đẹp nhất cho sự phát triển của đất nước.

15h30

Tiến tới sản xuất quy mô lớn nhờ cụm công nghiệp nuôi biển

PGS.TS Nguyễn Hữu Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam, cho rằng phát triển các cụm công nghiệp nuôi biển sẽ là giải pháp đột phá đưa nuôi biển Việt Nam thoát khỏi tình trạng thủ công, manh mún và tiến tới sản xuất quy mô lớn.

hoan-thien-quan-tri-bien-de-thuc-day-tang-truong-xanh-va-thinh-vuong-quoc-gia-155034_427

PGS.TS Nguyễn Hữu Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam.

Ông phân tích, Việt Nam có bờ biển dài 3.260 km, hơn 3.000 đảo và vùng đặc quyền kinh tế rộng 1 triệu km². “Chỉ cần sử dụng 0,1% diện tích biển, chúng ta đã có 1.000 km² để nuôi, cho sản lượng tới 10 triệu tấn cá biển mỗi năm, chưa kể các loại hải sản khác”, ông nhấn mạnh. Nhưng hiện nay, nghề nuôi biển vẫn dựa vào kinh nghiệm truyền thống, công nghệ lạc hậu, trại nuôi phải “né” sóng gió, bão; thiếu chuỗi liên kết và chưa có hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn đồng bộ.

Theo ông Dũng, con đường tất yếu là chuyển sang nuôi biển công nghiệp, mở rộng ra vùng biển mở và xa bờ với các hình thức nuôi trong lồng bè, lồng chìm, tàu nuôi biển hay các ao ven biển. Tuy nhiên, chỉ thay đổi vật liệu lồng là không đủ để thay đổi bản chất của phương thức nuôi thủ công. Điều Việt Nam cần là một mô hình tổ chức sản xuất mới, chính là cụm công nghiệp nuôi biển.

Đây là mô hình doanh nghiệp được Nhà nước hỗ trợ đầu tư hạ tầng, sau đó cho các doanh nghiệp, hợp tác xã và ngư dân thuê để sản xuất. Cách làm này tạo bước “nhảy vọt”, giúp hình thành ngành nuôi biển quy mô lớn, thu hút ngư dân vươn ra xa bờ, xây dựng chuỗi giá trị có sản lượng và chất lượng ổn định, tạo nền tảng tích hợp nuôi biển với du lịch, điện gió ngoài khơi và các lĩnh vực kinh tế biển khác. Đồng thời, sản xuất tập trung cũng góp phần gắn kết phát triển kinh tế với bảo vệ chủ quyền biển đảo.

Cụm công nghiệp nuôi biển được thiết kế như những khu vực sản xuất tập trung, có hạ tầng nổi - chìm đồng bộ từ khung lồng, sàn thao tác, cầu tàu, nhà điều hành, hệ thống neo, lồng chìm, camera giám sát đáy biển cùng toàn bộ hệ thống cung cấp điện, nước ngọt, liên lạc, xử lý chất thải và các khu bảo vệ an ninh.

Trên bờ là hạ tầng dịch vụ tổng hợp gồm nhà máy chế biến, cơ sở sơ chế - vỗ béo, kho lạnh, sản xuất nước đá, dịch vụ sửa chữa - cung ứng vật tư, chợ đầu mối và sàn đấu giá hải sản, ngân hàng, đào tạo kỹ thuật, khu nhà ở chuyên gia, công nhân và các công trình phục vụ đô thị - du lịch.

Nhập chú thích ảnh

Con đường tất yếu là chuyển sang nuôi biển công nghiệp, mở rộng ra vùng biển mở và xa bờ.

Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Dũng, mô hình này sẽ chấm dứt tình trạng nuôi biển tự phát, thiếu vốn và không có đăng kiểm; giảm rủi ro ngư dân phải tự gánh chịu; khắc phục sự manh mún, tạo sản lượng lớn và đồng đều theo tiêu chuẩn quốc tế. Đồng thời kiểm soát ô nhiễm biển hiệu quả hơn. Đây cũng là lời giải cho những bất cập hiện nay trong quản lý nuôi biển ở địa phương.

Từ các phân tích đó, Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường trình Chính phủ ban hành chủ trương xây dựng hệ thống cụm công nghiệp nuôi biển tại 21 tỉnh ven biển; giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường làm đầu mối quản lý; ưu tiên quỹ đất và mặt biển để thu hút đầu tư thí điểm; đồng thời rà soát, sửa đổi và ban hành các chính sách ưu đãi về đầu tư, tài chính, bảo hiểm, công nghệ, đào tạo và chế biến. Chuyên gia cũng đề nghị sớm ban hành bộ tiêu chuẩn - quy chuẩn về cụm công nghiệp nuôi biển và các định mức kinh tế - kỹ thuật cho nuôi biển công nghiệp.

15h25

Quy hoạch Điện VIII mở đường công nghiệp điện gió ngoài khơi tỷ đô

Tiềm năng điện gió ngoài khơi của Việt Nam là rất lớn, và Quy hoạch Điện VIII điều chỉnh đặt mục tiêu 6 - 17 GW công suất điện gió ngoài khơi vào giai đoạn 2030-2035 và 113 - 139 GW vào năm 2050. Điều này sẽ hình thành một ngành công nghiệp mới quy mô lớn, tạo ra nhiều việc làm và tăng cường an ninh năng lượng cũng như thúc đẩy phát triển kinh tế cho Việt Nam.

Theo ông Mark Hutchinson - Chủ tịch, Nhóm công tác khu vực Đông Nam Á, Hội đồng Năng lượng gió toàn cầu (GWEC), đây là một bước tiến rất lớn cho ngành điện gió ngoài khơi Việt Nam và sẽ gia tăng niềm tin cho thị trường. Một bước tiếp theo quan trọng là bảo đảm các dự án có thể được tài trợ vốn. Các dự án điện gió ngoài khơi có quy mô rất lớn, và theo ước tính của GWEC, những dự án 500 MW đầu tiên tại Việt Nam sẽ có chi phí khoảng 2 tỷ USD mỗi dự án, với 6 GW dự kiến tổng mức đầu tư lên đến 24 tỷ USD.

hoan-thien-quan-tri-bien-de-thuc-day-tang-truong-xanh-va-thinh-vuong-quoc-gia-154656_161

Ông Mark Hutchinson - Chủ tịch, Nhóm công tác khu vực Đông Nam Á, Hội đồng Năng lượng gió toàn cầu (GWEC).

Theo quan điểm của GWEC, hiện vẫn tồn tại nhiều rủi ro chưa được quản lý đầy đủ để các tổ chức tài chính thương mại này sẵn lòng cho vay. Tuy nhiên, Việt Nam có một tiền lệ lịch sử về việc tài trợ cho các dự án điện quy mô lớn, từ đó có rất nhiều bài học có giá trị, dù bối cảnh và ưu tiên của Chính phủ nay đã thay đổi.

Ông Mark Hutchinson đề xuất cần làm rõ các rủi ro và phân bổ các họa động trên biển giữa Chính phủ, EVN, các nhà phát triển, ngân hàng và các bên liên quan khác sẽ đóng vai trò then chốt trong việc giảm chi phí tài chính, qua đó bảo đảm mức giá điện thấp nhất có thể cho điện gió ngoài khơi tại Việt Nam.GWEC sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam thu hút hàng tỷ đô la Mỹ cần thiết để phát triển các dự án điện gió ngoài khơi.

15h15

Ứng dụng MSP và phân tích xung đột lợi ích để nâng tầm quản trị biển Việt Nam

Theo ông Hoàng Thành Vĩnh, cán bộ quản lý chương trình (UNDP Việt Nam), nghiên cứu "Các kịch bản kinh tế biển xanh cho Việt Nam" (ra mắt năm 2022) đã xây dựng hai mô hình định hướng: Kịch bản "Thông Thường" (BAU) dựa trên xu hướng hiện tại và Kịch bản "Xanh Lam" (Blue Scenario) đề xuất các cải cách mạnh mẽ, bám sát kinh tế xanh và phát triển bền vững.

hoan-thien-quan-tri-bien-de-thuc-day-tang-truong-xanh-va-thinh-vuong-quoc-gia-153208_227

Ông Hoàng Thành Vĩnh, cán bộ quản lý chương trình (UNDP Việt Nam)

Ở phiên bản 2, nhóm nghiên cứu đã sử dụng Bộ Chỉ số MSP (MSP Index) được điều chỉnh từ nghiên cứu của Reimer & cộng sự (2023) để đánh giá mức độ "chín muồi" của chính sách quy hoạch không gian biển tại Việt Nam. Kết quả cho thấy chính sách đã vượt qua giai đoạn "nhận thức" nhưng vẫn còn hạn chế trong việc triển khai thực tiễn và sự tham gia của cộng đồng.

Điểm đột phá của nghiên cứu là quản lý "Trade-offs" (xung đột lợi ích), sử dụng công cụ GIS (Hệ thống Thông tin Địa lý) nhằm trực quan hóa xung đột lợi ích giữa các ngành như thủy sản, năng lượng và du lịch, qua đó hỗ trợ ra quyết định dựa trên dữ liệu.

“Áp dụng thực tế cho thấy, khu vực Quảng Ninh - Hải Phòng có áp lực không gian rất cao do chồng lấn lớn giữa các ngành, đòi hỏi phải có sự điều phối liên ngành chặt chẽ. Ngược lại, Khánh Hòa có cơ hội thử nghiệm mô hình 'Đa mục tiêu' (Điện gió, thủy sản và du lịch) nhờ tiềm năng gió tốt. Tại Cà Mau, nơi rừng ngập mặn chiếm diện tích lớn và là vùng trọng điểm thủy sản, GIS khuyến nghị ưu tiên giải pháp 'Thuận thiên', tập trung phát triển thủy sản dưới tán rừng, kinh tế tuần hoàn ven biển và chỉ phát triển điện gió ở quy mô cộng đồng/nhỏ”, ông Vĩnh cho biết.

hoan-thien-quan-tri-bien-de-thuc-day-tang-truong-xanh-va-thinh-vuong-quoc-gia-153535_509

Khánh Hòa có cơ hội thử nghiệm mô hình 'Đa mục tiêu' (Điện gió, thủy sản và du lịch) nhờ tiềm năng gió tốt. Ảnh minh họa: Lê Minh/TTXVN.

Trên cơ sở đó, UNDP khuyến khích Việt Nam thể chế hóa và áp dụng chính thức Bộ chỉ số MSP cùng phân tích Trade-offs, đồng thời xây dựng nền tảng dữ liệu không gian biển đồng bộ. Ngoài ra, tăng cường hợp tác quốc tế với các tổ chức, quốc gia có nền kinh tế biển mạnh để chia sẻ, áp dụng kinh nghiệm quản trị biển, công nghệ xanh. Năng lực quản trị biển cũng cần được nâng cao để đạt mục tiêu 10% GDP từ kinh tế biển vào năm 2030 và trở thành quốc gia biển mạnh vào năm 2045.

15h05

Chính quyền 2 cấp mở ra nhiều không gian phát triển kinh tế biển

Theo GS.TS. Mai Trọng Nhuận, nguyên Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, định hướng không gian phát triển kinh tế biển gắn với sắp xếp đơn vị hành chính mở ra cơ hội rất lớn cho Việt Nam.

Với hơn 3.260 km bờ biển, vùng biển rộng gấp ba lần đất liền, xấp xỉ 1 triệu km2 và giàu tài nguyên và đa dạng sinh học, Việt Nam nắm giữ vị thế địa chính trị và địa kinh tế quan trọng, nằm trên nhiều tuyến hàng hải quốc tế. Sau sáp nhập, cả nước có 21/34 tỉnh ven biển và 23/34 tỉnh có cảng biển, tạo cơ sở thuận lợi cho phát triển kinh tế biển.

hoan-thien-quan-tri-bien-de-thuc-day-tang-truong-xanh-va-thinh-vuong-quoc-gia-152539_680

GS.TS. Mai Trọng Nhuận, nguyên Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội.

Việc sắp xếp lại đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền 2 cấp sẽ tạo không gian phát triển mới, giảm thủ tục, giúp địa phương chủ động hơn trong khai thác bền vững và sử dụng hiệu quả nguồn lực.

Không gian tỉnh được mở rộng sẽ giúp tăng diện tích phát triển, thu hút những dự án lớn, đồng thời tạo điều kiện để các tỉnh không có biển kết nối ra biển, phát triển logistics và du lịch. Sự sáp nhập cũng cho phép điều chỉnh quy hoạch ở tầm vĩ mô: thống nhất cách sử dụng không gian biển, giảm manh mún; rút ngắn quy trình hành chính và tạo động lực cho các dự án liên vùng như cảng biển hay khu công nghiệp. Quy hoạch mới sẽ gắn kết chặt chẽ hơn với quy hoạch quốc gia, hình thành xu thế phát triển thống nhất.

Theo ông Nhuận, thay đổi đơn vị hành chính còn giúp định hình các trục phát triển biển mới. Không gian rộng mở là điều kiện để hình thành các vùng kinh tế biển trọng điểm, tạo quỹ đất lớn cho logistics và năng lượng tái tạo, nhất là điện gió ngoài khơi, đồng thời kết nối thông suốt các hành lang kinh tế. Tuy nhiên, mô hình “tỉnh - xã” sau sáp nhập có thể tạo ra khoảng trống quản lý ở cấp cơ sở, ảnh hưởng đến điều hành và giám sát tài nguyên biển nếu không có giải pháp phù hợp.

Theo đó, chuyên gia đề xuất 4 nhóm giải pháp. Trước hết, hoàn thiện thể chế và cơ chế quản lý liên tỉnh theo cách tiếp cận “quản trị không gian biển”, kết nối tỉnh có biển với tỉnh không biển, xây dựng chuỗi khu kinh tế, cảng biển - logistics quy mô liên tỉnh để tránh trùng lặp đầu tư và phát huy lợi thế từng vùng.

Thứ hai, đẩy mạnh khoa học công nghệ và chuyển đổi số, hình thành hệ sinh thái công nghệ biển, áp dụng hệ thống quan trắc - giám sát thời gian thực bằng IoT, vệ tinh và AI.

Thứ ba, phát triển mạnh hạ tầng, đặc biệt là cảng cửa ngõ quốc tế, logistics đa phương thức; đồng thời quản lý chặt các dự án lấn biển.

Thứ tư, xây dựng nguồn nhân lực biển chất lượng cao, đào tạo chuyên sâu về điện gió ngoài khơi, dự báo hải văn, nuôi biển công nghệ cao; nâng năng lực quản lý không gian biển cho cán bộ tỉnh và xã.

GS.TS. Mai Trọng Nhuận khẳng định, mô hình chính quyền 2 cấp là chủ trương đột phá nhưng cần hệ thống giám sát, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường tương ứng. Ông kiến nghị sớm hoàn thiện thể chế quản trị biển phù hợp cơ cấu mới; đồng thời thí điểm mô hình quản trị biển hiện đại tại 3 vùng biển để nhân rộng toàn quốc.

14h55

Seychelles đạt mục tiêu 30x30 nhờ công nghệ và tài chính bền vững

Nếu nhiều quốc gia đến nay vẫn còn đang tiến tới mục tiêu bảo vệ 30% không gian biển vào năm 2030 theo Khung Đa dạng sinh học toàn cầu (GBF) Côn Minh-Montreal, thì quốc đảo Seychelles đã hoàn thành mục tiêu này.

TS. Nico Barito, Đặc phái viên Tổng thống Cộng hòa Seychelles cho biết, thông qua Quy hoạch Không gian biển, quốc đảo Seychelles đã cam kết và thực hiện thành công việc bảo vệ 32% diện tích đại dương (hơn 400.000 km² vào năm 2020).

hoan-thien-quan-tri-bien-de-thuc-day-tang-truong-xanh-va-thinh-vuong-quoc-gia-151457_952

TS. Nico Barito, Đặc phái viên Tổng thống Cộng hòa Seychelles.

Seychelles đã xây dựng “Ngân hàng đại dương” có khả năng hấp thụ tối thiểu 18 triệu tấn CO₂ mỗi năm, trong khi tổng lượng phát thải của quốc gia chỉ khoảng 600.000 tấn. Nói cách khác, hệ thống này hấp thụ lượng carbon gấp khoảng 30 lần mức Seychelles thải ra hằng năm.

Cộng hòa Seychelles đã phát hành trái phiếu xanh chủ quyền đầu tiên trên thế giới nhằm hỗ trợ các dự án thủy sản và biển bền vững. Cơ chế tài chính sáng tạo đầu tư vào tương lai đại dương thông qua các dự án biển bền vững mang lại lợi ích cho con người và hành tinh. Các khu bảo tồn biển được đầu tư với đầu ra đo lường được thông qua cơ chế đầu tư phân phối hằng năm và bảo vệ lợi nhuận với ưu đãi carbon.

Ngân hàng chuyên biệt hóa phát triển bền vững biển Seychelles đầu tư vào các lĩnh vực thủy sản có trách nhiệm và được quản lý, bảo tồn biển hướng tới vốn tự nhiên xanh, năng lượng tái tạo và năng lượng mới dựa vào đại dương.

Ngoài ra, điểm khác biệt là đổi mới sáng tạo và công nghệ hỗ trợ phát triển các ngành công nghiệp mới và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, ví dụ như lâm-ngư nghiệp kết hợp, nuôi trồng thủy sản chính xác, công nghệ sinh học biển.

hoan-thien-quan-tri-bien-de-thuc-day-tang-truong-xanh-va-thinh-vuong-quoc-gia-151708_103

Đảo quốc Seychelles nhìn từ trên cao.

“Kinh tế biển xanh khác biệt căn bản so với bảo tồn truyền thống. Đó là mô hình phát triển kinh tế sử dụng công nghệ và nguồn lực tài chính như công cụ để đạt được các mục tiêu phát triển bền vững, không chỉ đơn thuần là mục tiêu bảo vệ. Chúng tôi tin rằng, những kinh nghiệm của Seychelles trong việc đạt được các mục tiêu Phát triển bền vững kinh tế biển sẽ là một mô hình khả thi để áp dụng thông qua các dự án thí điểm tại Việt Nam”, TS Nico Barito nhấn mạnh.

14h40

Biển, đảo Quảng Ninh giữ vai trò đặc biệt quan trọng ở cả tầm quốc gia và quốc tế

Theo Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh Bùi Văn Khắng, biển, đảo Quảng Ninh giữ vai trò đặc biệt quan trọng ở cả tầm quốc gia và quốc tế, tạo nên lợi thế đột phá cho phát triển.

hoan-thien-quan-tri-bien-de-thuc-day-tang-truong-xanh-va-thinh-vuong-quoc-gia-150338_562

Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh Bùi Văn Khắng.

Với không gian chiến lược, Quảng Ninh có tiềm năng lớn để phát triển toàn diện các ngành kinh tế biển như cảng biển, logistics, du lịch biển, nuôi trồng và khai thác thủy sản, công nghiệp ven biển, năng lượng gió - khí, xây dựng công trình biển và khoa học - công nghệ biển. Khai thác tối đa những lợi thế này là nhiệm vụ trọng tâm nhằm đưa tỉnh trở thành trung tâm kinh tế biển hiện đại, tầm quốc tế trong kỷ nguyên mới.

Trong du lịch và dịch vụ biển, Quảng Ninh khẳng định vị trí trung tâm du lịch biển của miền Bắc với điểm nhấn là Vịnh Hạ Long - Di sản thiên nhiên thế giới. Về kinh tế hàng hải và logistics, tỉnh sở hữu hệ thống hạ tầng ven biển đồng bộ, hiện đại, kết nối bởi đường cao tốc, sân bay và mạng lưới cảng biển quy mô.

Ở lĩnh vực công nghiệp ven biển và năng lượng, các khu công nghiệp và khu kinh tế ven biển tiếp tục thu hút mạnh dòng vốn đầu tư, hình thành chuỗi công nghiệp chủ lực như đóng tàu, chế biến và sản xuất ô tô. Ngành chế biến - chế tạo duy trì tốc độ tăng trưởng cao. Theo quy hoạch giai đoạn 2030-2035, tỉnh sẽ phát triển 4.000 MW điện gió ngoài khơi và 1.500 MW điện khí, mở ra triển vọng trở thành trung tâm năng lượng xanh của khu vực.

Trong thủy sản, bảo tồn và an sinh xã hội, tỉnh đẩy mạnh nuôi trồng thủy sản; hoàn thành thay thế 10 triệu phao xốp bằng vật liệu HDPE; quy hoạch 3 khu bảo tồn biển, 13 khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản quý hiếm và 4 vùng cấm khai thác có thời hạn. Quảng Ninh cũng đảm bảo 100% hộ dân trên các đảo có điện lưới và 100% người dân được cấp thẻ bảo hiểm y tế; đồng thời chú trọng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và xây dựng văn hóa biển bền vững.

Tuy nhiên, Chủ tịch Bùi Văn Khắng thẳng thắn nhìn nhận, tăng trưởng kinh tế biển của tỉnh vẫn chưa tương xứng với tiềm năng; tỷ trọng đóng góp vào GRDP và thu ngân sách còn thấp. Các hạn chế lớn gồm hiệu quả và quy mô của logistics, cảng biển và nuôi trồng thủy sản chưa cao; khoa học - công nghệ biển chưa đóng vai trò động lực; thiếu cơ sở đào tạo chuyên sâu; ô nhiễm môi trường từ khai thác khoáng sản, xi măng và nhiệt điện còn phức tạp; quản lý tài nguyên biển đảo chưa hiệu quả; và liên kết vùng chậm đổi mới.

Nhập chú thích ảnh

Trang trại nuôi biển công nghệ cao tại Vân Đồn (Quảng Ninh) của STP Group.

Từ thực tiễn đó, tỉnh rút ra các bài học then chốt. Đó là hành động dựa trên thực tế, tôn trọng quy luật khách quan; phát triển kinh tế biển theo hướng đồng bộ, toàn diện; và ưu tiên nguồn lực tài chính, vật lực, nhân lực cho chiến lược dài hạn.

Thời gian tới, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ phối hợp với Quảng Ninh và Hải Phòng xây dựng đề án đưa 2 địa phương trở thành trung tâm kinh tế biển hiện đại, tầm quốc tế hàng đầu Đông Nam Á. Để thực hiện mục tiêu này, Quảng Ninh sẽ tập trung vào các giải pháp đột phá như chuyển đổi mô hình du lịch để trở thành trung tâm du lịch biển kết nối khu vực và thế giới; phát triển đô thị ven biển theo mô hình tăng trưởng xanh, thông minh; hoàn thiện hạ tầng khu kinh tế, khu công nghiệp; đề xuất xây dựng khu thương mại tự do ven biển tại Vân Đồn theo mô hình sinh thái; gắn phát triển kinh tế với quốc phòng - an ninh; duy trì hợp tác song phương với Quảng Tây (Trung Quốc) trong quản lý vùng biển; và thí điểm các cơ chế, chính sách ưu đãi đặc thù tạo đòn bẩy cho các ngành kinh tế biển có sức cạnh tranh quốc tế.

14h25

Na Uy hỗ trợ Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu quốc gia mạnh về biển

Theo Đại sứ Na Uy tại Việt Nam Hilde Solbakken, 70% kim ngạch xuất khẩu của nước này đến từ kinh tế biển. Đồng thời, các vùng biển được quản lý thuộc hàng tốt nhất trên thế giới. Trong khi đó, Việt Nam đang bước vào một kỷ nguyên mới với khát vọng trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045 và đạt phát thải ròng bằng không (Net Zero) vào năm 2050. Việc tái cơ cấu gần đây của Việt Nam cho thấy một bước tiến mạnh mẽ hướng tới kinh tế biển.

hoan-thien-quan-tri-bien-de-thuc-day-tang-truong-xanh-va-thinh-vuong-quoc-gia-145315_928

Đại sứ Na Uy tại Việt Nam Hilde Solbakken.

Đánh giá cao việc phê duyệt Khung Quy hoạch Không gian Biển quốc gia vào năm 2024, bà Hilde Solbakken cho rằng, cần triển khai hiệu quả ở cấp địa phương. Cụ thể, 21 tỉnh và thành phố ven biển phải thực hiện phân vùng biển chi tiết, được hỗ trợ bởi các cơ chế liên ngành mạnh mẽ để giải quyết xung đột giữa các bên sử dụng biển và đảm bảo lợi ích kinh tế công bằng.

“Hợp tác giữa Na Uy và Việt Nam bám sát các ưu tiên phát triển biển bền vững. Cùng với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cơ quan chức năng địa phương, UNDP Việt Nam và các đối tác, chúng tôi đang triển khai các dự án thúc đẩy quy hoạch không gian biển (MSP), hướng đến đổi mới trong nuôi trồng thủy sản và năng lượng tái tạo.

Bên cạnh đó, Na Uy sẵn sàng chuyển giao công nghệ và thực hành tốt để hỗ trợ Việt Nam phát triển bền vững, bảo đảm an ninh lương thực và tạo thêm sinh kế ven biển. Chúng tôi cũng đồng hành cùng Việt Nam thông qua thí điểm mô hình hoàn trả bao bì (DRS) tại Phú Quốc, thúc đẩy chính sách trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) và mở rộng mô hình đồng xử lý chất thải trong ngành xi măng - giải pháp “ba thắng” cho khí hậu, môi trường và doanh nghiệp”, Đại sứ cho biết.

Các hỗ trợ này góp phần thúc đẩy Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển và hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, hướng tới thu nhập cao vào năm 2045. Na Uy cam kết tiếp tục đồng hành với Việt Nam trong những lĩnh vực ưu tiên này.

14h10

Kinh tế biển Việt Nam cần đột phá để chuyển hóa tiềm năng thành kết quả

Ông Nguyễn Duy Hưng, Phó Trưởng Ban Chính sách và Chiến lược Trung ương, nhấn mạnh việc cần đánh giá toàn diện quá trình thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển việt nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Nghị quyết 36-NQ/TW, đồng thời đưa ra đề xuất chính sách cho giai đoạn tới.

dien-dan-phat-trien-ben-vung-kinh-te-bien-viet-nam-nam-2025-143713_608

Ông Nguyễn Duy Hưng, Phó Trưởng Ban Chính sách và Chiến lược Trung ương.

Sau khi Nghị quyết 36-NQ/TW được ban hành năm 2018, các Bộ, ngành và địa phương đã triển khai tương đối đồng bộ và hiệu quả. Nhận thức về phát triển kinh tế biển đã thay đổi rõ rệt. Sáu lĩnh vực kinh tế biển chủ đạo đã thu hút nguồn lực đầu tư lớn; nhiều đô thị ven biển được xây dựng hiện đại, các khu công nghiệp và hạ tầng quy mô lớn hình thành, một số địa phương tạo được đột phá và bắt đầu hình thành các tập đoàn kinh tế biển, qua đó góp phần nâng cao đời sống người dân.

Tuy nhiên, một số chỉ tiêu còn là thách thức và chưa được đánh giá đầy đủ. Hệ sinh thái biển tại nhiều khu vực đang suy thoái; nguồn lợi thủy sản giảm và thiếu bền vững. Quy mô kinh tế biển chưa tương xứng với tiềm năng; khoa học công nghệ, chuyển đổi số và nguồn nhân lực biển chưa trở thành động lực cốt lõi, sự tham gia của cộng đồng trong bảo vệ môi trường biển vẫn còn hạn chế.

Trong số đó, mục tiêu tham vọng về tăng 6% diện tích khu bảo tồn biển và ven biển còn nhiều khó khăn. “Tương tự với điện gió ngoài khơi, hiện mới dừng ở mức cơ hội, chưa chuyển thành kết quả cụ thể. Câu hỏi đặt ra là vì sao vẫn chưa tạo được bứt phá. Thách thức lớn hiện nay là làm thế nào để hiện thực hóa tiềm năng”, ông Hưng gợi mở.

Các khu bảo tồn biển sẽ mang lại cơ hội giải trí và du lịch sinh thái bền vững, từ đó tạo ra việc làm mới cho cộng đồng địa phương, tạo doanh thu, nâng cao chất lượng cuộc sống.Các khu bảo tồn biển sẽ mang lại cơ hội giải trí và du lịch sinh thái bền vững, từ đó tạo ra việc làm mới cho cộng đồng địa phương, tạo doanh thu, nâng cao chất lượng cuộc sống.

Các khu bảo tồn biển sẽ mang lại cơ hội giải trí và du lịch sinh thái bền vững, từ đó tạo ra việc làm mới cho cộng đồng địa phương, tạo doanh thu, nâng cao chất lượng cuộc sống.

Theo ông, sự kiện hôm nay không chỉ nhằm đánh giá 7 năm triển khai Nghị quyết 36-NQ/TW, mà cũng nhằm xác định những lĩnh vực ưu tiên mang tính đột phá để tham mưu cho Đảng và Nhà nước trong bối cảnh mới.

14h00

Hoàn thiện quản trị biển để thúc đẩy tăng trưởng xanh và thịnh vượng quốc gia

Năm 2025 đánh dấu giai đoạn phát triển mới của đất nước sau khi Việt Nam hoàn tất cải cách tổ chức bộ máy và mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, mở ra thời kỳ tăng trưởng mạnh mẽ và thịnh vượng hơn. Bối cảnh mới đòi hỏi mô hình tăng trưởng phải nâng tầm, dựa trên đổi mới sáng tạo, khoa học công nghệ và hội nhập quốc tế sâu rộng.

dien-dan-phat-trien-ben-vung-kinh-te-bien-viet-nam-nam-2025-143016_58

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng phát biểu khai mạc Diễn đàn.

Kinh tế biển ngày càng giữ vai trò chiến lược, là không gian kết nối giữa tăng trưởng, an ninh, môi trường và vị thế quốc gia. Phát triển bền vững kinh tế biển trở thành thước đo năng lực quản trị hiện đại của Việt Nam trong thế kỷ XXI.

Thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương quan trọng, tạo nền tảng thúc đẩy kinh tế biển; trong đó Quảng Ninh là địa phương tiêu biểu khi phát huy hiệu quả lợi thế biển và kiên định định hướng phát triển bền vững.

Việc tổ chức Diễn đàn tại Quảng Ninh mang ý nghĩa thiết thực, gắn kết thực tiễn địa phương năng động với tầm nhìn quốc gia. Diễn đàn diễn ra đúng thời điểm sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết 26 của Chính phủ, là dịp đánh giá kết quả đạt được và nhận diện những vấn đề trong triển khai Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển đến năm 2030, tầm nhìn 2045.

Những năm qua, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tập trung hoàn thiện thể chế quản trị biển; thúc đẩy các ngành kinh tế biển theo hướng xanh và hiện đại; cải thiện đời sống người dân vùng biển; tăng cường khoa học - công nghệ, dữ liệu và điều tra cơ bản; đẩy mạnh hợp tác quốc tế, bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu gắn với bảo đảm chủ quyền biển đảo. Những kết quả này tạo nền tảng quan trọng cho giai đoạn phát triển tiếp theo của kinh tế biển Việt Nam.

Việt Nam là quốc gia có tiềm năng rất lớn để phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển. Ảnh: Duy Học.Việt Nam là quốc gia có tiềm năng rất lớn để phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển. Ảnh: Duy Học.

Việt Nam là quốc gia có tiềm năng rất lớn để phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển.

Tuy vậy, nhiều thách thức vẫn hiện hữu: thể chế còn bất cập, hạ tầng ven biển thiếu đồng bộ, khai thác vượt khả năng phục hồi, ô nhiễm môi trường biển, cùng với yêu cầu tăng năng lực điều phối liên ngành, liên vùng.

Diễn đàn hôm nay cần tập trung thảo luận các nhóm vấn đề trọng tâm: Xác định mô hình tăng trưởng biển phù hợp bối cảnh mới, dựa trên khoa học, công nghệ, dữ liệu và tăng trưởng xanh. Phát triển đồng bộ hệ sinh thái kinh tế biển, gồm hạ tầng năng lượng, logistics, đô thị biển, nguồn nhân lực và các trung tâm nghiên cứu, dự báo đại dương. Tăng cường quản trị biển hiện đại với thể chế minh bạch, hiệu quả; hệ thống quan sát, giám sát tiên tiến; kiểm soát ô nhiễm và phục hồi hệ sinh thái biển.

Xem thêm
Tổng Bí thư Tô Lâm dự Hội nghị của Chính phủ và chính quyền địa phương

Tổng Bí thư Tô Lâm dự và chỉ đạo Hội nghị trực tuyến của Chính phủ với chính quyền địa phương để đánh giá kết quả năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026.

Định hình hệ sinh thái kinh tế biển hiện đại cho giai đoạn phát triển mới