Minh họa: Nguyễn Mạnh Hùng.
Nói nguyên quán bởi đây chính là cách gọi từ các giấy tờ căn cước nói về quê gốc của mỗi một cá nhân. Nguyên quán gọi giản dị và yêu thương chính là quê nội.
Cho dù có người chưa từng một lần về nơi đó, cũng có thể không sinh ra từ quê, nhưng dòng địa chỉ nguyên quán tạc vĩnh viễn vào số phận, bởi nơi đó là gốc gác dòng họ, tiên tổ.
Và còn điều này khiến nguyên quán luôn thiêng liêng, khi rời cõi tạm rất nhiều người đã chọn trở về nơi gốc gác để an nghỉ trong nghĩa địa làng.
Quê nội của tôi ngay sát bờ đê sông Hồng. Từ nhà tôi hiện tại ở Hoàng Mai, đi theo đường đê, chỉ chừng nửa giờ đồng hồ là về đến quê. Rất gần và tiện lợi.
Khoảng cách chim bay có lẽ chưa đến chục cây số. Ấy vậy mà có một thời khoảng cách ấy lại là sự cách xa tưởng chừng khó bề san lấp. Nó khiến tôi phải đến khi trưởng thành mới biết tìm đường về được chốn cũ của cha ông.
Có những lý do thế cuộc mà thời gian trôi đi vẫn khó tìm được lời biện giải. Chỉ biết bây giờ nơi nguyên quán ấy, tôi còn có điểm tựa vững chãi để không bao giờ có thể quên lãng, ấy là nghĩa địa làng, nơi có những phần mộ của dòng họ, ông bà, bố mẹ tôi.
Biến thiên thời cuộc, mưu sinh và nhiều lý do khác khiến gia đình tôi không còn một tấc đất ở quê, cả ông bà, chú bác đều phiêu dạt đến những vùng đất khác.
Nhưng điều ấy thảy chẳng quan trọng, tôi vẫn có một miền quê để nhớ để mỗi lần trở về, ra đi, đều lưu giữ những cảm xúc, tình cảm gắn bó máu thịt như nhịp thở duy trì sự sống.
Như những làng ven sông Hồng, Xâm Dương quê tôi trên bến dưới thuyền. Khi xưa rừng còn nhiều, bãi sông dọc làng nối nhau những bè nứa, gỗ… các loại san sát. Dân làng chủ yếu làm nghề thủ công đan lát mây tre, phên nứa và sản xuất đồ gỗ.
Thời bao cấp họ ở trong các hợp tác xã. Sản phẩm của làng được tập kết ở triền đê. Ô tô về ăn hàng nối nhau vào mỗi kỳ xuất hàng. Thường thì những làng nghề như quê tôi có rất ít ruộng đất nên nghề nông không phải là chủ yếu.
Tuy vậy mọi tập tục xưa cũ thì đều mang dấu ấn của văn hóa châu thổ sông Hồng. Làng có đủ đình, chùa, đền miếu, trong đó nổi tiếng nhất là đền Dầm. Đền Dầm thờ Mẫu Thủy, là một trong ba thánh Mẫu của văn hóa tâm linh Việt, được xếp hạng di tích lịch sử.
Đây là một điểm dừng của tuyến du lịch sông Hồng đón du khách tứ xứ tham quan và cúng lễ tín ngưỡng. Lễ hội hàng năm đầu tháng hai âm tấp nập du khách bốn phương.
Thời gian trôi đi, rừng cạn kiệt, làng nghề Xâm Dương không còn những sản vật của rừng. Nghề làm thủ công mỹ nghệ thất truyền, chỉ còn rất ít hộ gia đình giữ nghề làm nhỏ lẻ. Bãi sông xưa kia là nơi tập kết tre nứa, gỗ… giờ biến thành xưởng thợ, nhà ở.
Ngay trước mặt đền Dầm là một nhà máy án ngữ. Ao hồ dần bị san lấp, người dân tiếng là nông thôn nhưng dần dần sinh hoạt theo lối phố thị.
Chợ Kệ xưa kia cũng nức tiếng chợ quê truyền thống, bây giờ biến thành phố chợ tấp nập mỗi ngày. Công cuộc đô thị hóa biến một làng quê thuần chất giờ bộn bề nửa quê nửa tỉnh. Xuất hiện những ông chủ thời mới thâu tóm đất đai lập công ty bề thế.
Những xưởng sản xuất lớn với những bãi tập kết gỗ nhập từ nước ngoài. Nghề mộc có lẽ vẫn còn giữ được như nếp xưa nhờ ở những công ty và hộ gia đình theo nghề và đồ gỗ vẫn là sản phẩm cần thiết của xã hội.
Cho dù đổi thay nhiều ở diện mạo, nghề nghiệp thích ứng với nhịp sống hiện đại nhưng có lẽ quan hệ làng xóm rất khó mai một sớm chiều. Tôi nghĩ đó chính là ở mối giao kết tộc họ.
Họ Phạm của tôi ở Xâm Dương là một dòng họ lớn có những nhánh khác nhau như Phạm Đại, Phạm Đình, Phạm Tiểu. Duy nhất dòng Phạm Đại của tôi còn giữ được nhà thờ tổ từ xa xưa.
Tất nhiên bây giờ các dòng khác do kinh tế phát triển, con cháu phương trưởng, dòng họ nào cũng đều dựng được nhà thờ. Nhà thờ họ được coi như một khắc dấu tồn tại trong chừng mực nào đó được hiểu như sự thành đạt của họ tộc.
Nói về ngôi nhà thờ họ cũ của dòng họ tôi. Một nhà thờ nhỏ còn rất ít dấu tích tọa lạc trên một khuôn viên khá rộng. Chủ nhân của nhà thờ họ tất nhiên phải thuộc về chi trên cùng dòng họ.
Cứ thế việc cúng bái giỗ họ duy trì hàng năm là dịp để họ hàng, con cháu tìm về đất tổ. Chuyện họ hàng, có một chi tiết buồn cười thế này. Tôi quen biết nhà thơ Phạm Khải, đang là Tổng biên tập báo Công an nhân dân, từ khá lâu, nhưng không hề biết đấy là thân thích.
Một lần nhân Hội nhà văn Việt Nam in kỷ yếu, lật giở xem, tôi phát hiện ra mục quê quán của nhà thơ Phạm Khải trùng hợp với tôi. Bèn hỏi thì Phạm Khải ớ ra.
Một chuyến về quê thắp hương nhà thờ, mới hay chúng tôi là những người anh em khác chi. Đúng là đánh nhau vỡ đầu mới ra họ ra hàng.
Dịp tộc họ quyết định xây lại nhà thờ họ cho bề thế phù hợp với phát triển hôm nay thực sự là một sự kiện lớn.
Nói thêm về tổ chức họ mạc, có hẳn các ban bệ gồm các cụ cao niên và những người có tiếng nói quan trọng trong họ. Những cuộc họp liên miên bàn về thiết kế và nhất là kinh phí. Họ của tôi có hai nhà văn và vài quan chức cấp tỉnh, cấp bộ, số người thành đạt cũng nhiều. Đến phần đóng góp khá phức tạp.
Đã là họ tộc thì ngôi thứ cao thấp theo chi, cành chứ không nệ vào những gì ngoài xã hội. Anh là bí thư hay chủ tịch tỉnh, bộ trưởng cũng vậy. Doanh nhân giầu có ư, tốt thôi nhưng không phải cứ có tiền là muốn vung vít thế nào cũng được.
Trước hết là suất đinh. Suất đinh tính ở các gia đình chỉ là đàn ông mới được gọi là đinh và bổ đều đầu người mức đóng góp ấn định. Kế đó mới là sự ủng hộ của cá nhân và các gia đình. Việc đóng góp này là tự nguyện tùy theo khả năng kinh tế và tinh thần, thái độ với họ tộc.
Dịp đó, tôi lấy nhuận bút cho vào phong bì 10 triệu ủng hộ xây nhà thờ. Tôi vừa phát biểu trao tiền xong thì cử tọa ồn ã. Tay nhà văn đóng 10 triệu được thì tôi phải đóng gấp ba, gấp năm, thậm chí gấp mười.
Cứ thế kiểu như gà tức nhau tiếng gáy, chỉ non buổi đã được một số tiền lớn, rất vui. Sau này tôi còn nghe thầm thào, họ tộc có hai nhà văn đều nghèo nhưng có tinh thần đóng góp, trong khi tay quan đầu tỉnh giầu ức vạn cũng chỉ đóng bằng mức ấy thì đúng là keo kiệt với họ mạc. Thầm thào thắc mắc cũng chỉ là vui.
Hôm khánh thành nhà thờ, họ hàng khắp nơi, có cả nước ngoài về dự. Cỗ bàn bày tăm tắp bắt mắt. Các cụ cao niên diện lễ phục quần trắng áo the vấn khăn lễ tổ đúng bài bản có trống thúc đi kèm vô cùng long trọng.
Sau đấy tôi còn nghe một vị nguyên bộ trưởng ở dòng Phạm Tiểu cũng bỏ một món tiền lớn góp xây mới nhà thờ họ dòng này. Việc đó được họ tộc và dân làng hoan nghênh.
Làng Xâm Dương, nguyên quán của tôi ngày một thay đổi. Thay đổi từ việc làng việc họ đến việc mỗi gia đình, cá nhân.
Thanh niên làng giờ không biết cày ruộng, làm đồng, chỉ thạo buôn bán và làm các việc ngoài nhà nông. Quán bia hơi, karaoke và những gì thuộc văn hóa hưởng thụ phố đã về tận làng.
Nếp sống gần như thành phố nhưng mọi lề thói, tục lệ vẫn giữ nếp quê. Bởi nửa nọ nửa kia nên bây giờ nhà có việc như cưới xin, cỗ bàn rất mệt và tốn kém vì phải theo cỗ phố chứ không đơn giản cỗ quê như trước.
Nhiều thứ khác nữa, biết bao nhiêu bộn bề, trăn trở của một làng quê đang phát triển thay đổi với xu thế xã hội.
Với riêng tôi, tuổi càng cao càng siêng về quê, càng gần gụi gắn bó hơn với nguyên quán của mình. Tâm lý này hoàn toàn đúng với quy luật tuổi tác. Trong phần mộ gia đình, tôi đã ngắm sẵn nơi về nằm dưới chân ông bà, bố mẹ một ngày nào đó, khi tôi từ giã cuộc đời này.
Hà Nội, 6/2020

























