Không biết từ bao giờ, quê tôi đã có tục lệ ăn cỗ lấy phần. Từ thuở còn bé, tôi đã thấy phong tục ấy hiện diện như một điều rất đỗi tự nhiên trong đời sống làng quê. Với lũ trẻ chúng tôi khi ấy, mỗi khi làng có cỗ là háo hức, mong ngóng từng giờ, từng phút, chỉ chờ người lớn đi ăn cỗ trở về với "phần" trên tay.
Mâm cỗ ngày xưa rất đơn sơ, chỉ quanh quẩn vài món quen thuộc: đĩa thịt lợn luộc, thịt lợn xào, đĩa nem, bát xu hào xào, bát dưa chua, bát canh chuối, tô nước xuýt, xôi. Miếng thịt thường được thái mỏng, bày lên đĩa cũng chẳng đầy đặn gì. Chỉ những gia đình khá giả mới có thêm món gà luộc, giò lụa hay thịt nướng. Đồ uống cũng chỉ độc chai rượu quê nửa lít, nút bằng lá chuối khô. Bởi vậy, phần mang về sau buổi cỗ cũng chỉ là góc xôi, vài miếng thịt được gói cẩn thận trong lá chuối, buộc bằng sợi rơm mềm. Vậy thôi mà quý lắm.
Lấy "phần" sau khi ăn cỗ. Ảnh: Dân trí.
Tôi vẫn nhớ như in cảm giác hồi hộp mỗi khi người lớn trở về. Vừa thấy bóng mẹ hay bà ngoài cổng là anh em tôi đã xúm lại, mắt sáng lên chờ đợi. Khi mở gói phần ra, bên trong là nắm xôi thơm mùi nếp mới, mấy miếng thịt luộc óng mỡ, thơm ngậy khiến nước miếng như ứa ra nơi đầu lưỡi. Lạ lắm, phần ấy lúc nào ăn cũng thấy ngon hơn thường ngày.
Mở gói phần ra, bên trong là nắm xôi thơm mùi nếp mới, mấy miếng thịt luộc...
Thời ấy hiếm hoi lắm mới được ăn xôi thịt. Quanh năm chỉ vài dịp giỗ chạp, lễ tết trong nhà mới có chút thức ngon. Cái cảm giác luôn ở trong trạng thái “thèm” khiến miếng ăn trở nên quý giá và ngon đến lạ kỳ. Tục lấy phần ngày xưa vì thế không đơn thuần chỉ là chút thức ăn còn lại sau mâm cỗ, mà là sự chắt chiu, là tình thương, là nếp sống giàu tình nghĩa của người quê dành cho ông bà, con trẻ và những người không thể có mặt. Một phong tục chất chứa biết bao sự quan tâm trong từng nếp nhà.
Cỗ ngày nay đã khác xưa rất nhiều. Món ăn đa dạng, phong phú hơn với đủ thứ mà ngày trước chỉ nghe qua cũng thấy xa xỉ: chim quay, tôm sú, cá chiên, thịt bò, thịt bê, thịt thỏ, súp khai vị, canh mọc, bánh ngọt, hoa quả tráng miệng…
Việc lấy phần bây giờ cũng không phải vì thiếu, vì muốn mang về cho người ở nhà nữa. Thức ăn giờ được chia đầy đủ các món, bỏ vào túi nilon, đôi khi còn có cả bia, nước ngọt mang về. Có những mâm cỗ, người ta ăn chỉ lấy lệ, còn món ngon thì giữ lại để chia phần.
Có lẽ, ăn cỗ lấy phần ngày nay là phong tục, là thói quen nhiều hơn là nhu cầu. Bởi cuộc sống giờ đã đủ đầy hơn trước rất nhiều. Trong bữa cơm thường ngày, thịt, cá, trứng, đậu… đã không còn là thứ xa xỉ. Trẻ con bây giờ cũng chẳng còn háo hức ngóng cổng như lũ trẻ ngày xưa nữa. Có khi phần mang về đặt trước mặt, chúng còn dửng dưng, chẳng mấy mặn mà. Phần ngày xưa được gói trong lá chuối, cầm tay mang về, mộc mạc mà ấm áp biết bao. Còn phần ngày nay nhiều khi là cả túi nilon to treo lủng lẳng trên xe máy, nhìn đâu đó cũng nhạt đi phần nào cái duyên quê cũ.
Không khí ăn cỗ ngày xưa cũng thật khác. Mâm cỗ được bày trên những chiếc mâm gỗ, đặt trên chiếu trải giữa sân. Các cụ cao niên được ngồi trên phản hoặc bàn kê trong nhà. Người đến ăn cỗ chủ yếu là bà con trong xóm, trong làng, đi bộ đến cho gần gũi. Thi thoảng mới có người ở xã bên đạp xe sang dự.
Mỗi khi gia đình nào có việc, anh em họ mạc, hàng xóm láng giềng thường đến giúp. Ở một số vùng quê, vào bếp nẫu cỗ thường là đàn ông. Ảnh: FBNĐ.
Ngày ấy, nhà có việc cưới xin, giỗ chạp, anh em họ mạc, hàng xóm láng giềng thường đến giúp bằng gạo chứ chưa có phong bì tiền như bây giờ. Người thì đi mượn phông bạt, người huy động bàn ghế, chai lọ, bát đĩa, cốc chén khắp xóm. Người nấu cỗ, người bày cỗ, ai cũng góp tay mà không nề hà. Văn nghệ cũng rất “cây nhà lá vườn”, chủ yếu là khách dự cưới góp vui bằng vài bài hát. Không có sân khấu rực rỡ hay âm thanh ánh sáng hiện đại, nhưng tiếng cười nói thì lúc nào cũng rộn ràng.
Cỗ ngày xưa còn phân biệt khá rõ giữa cỗ người lớn và cỗ trẻ con. Cỗ người lớn có rượu, ngồi đúng năm hoặc sáu người một mâm theo sự sắp xếp của gia chủ. Cỗ trẻ con thì đơn giản hơn, món ăn bày ít cầu kỳ và số lượng trẻ trong một mâm cũng đông hơn. Cỗ trẻ con không lấy phần, ăn hết veo luôn, vui lắm.
Ngày nay, phần lớn đám cỗ đều đặt dịch vụ trọn gói: từ phông bạt, bàn ghế đến âm thanh, ánh sáng, văn nghệ chuyên nghiệp. Mâm cỗ được bày biện trên bàn phủ khăn lịch sự. Người đi ăn cỗ bằng ô tô, xe máy đông đúc, thậm chí người trong làng cũng phóng xe máy đến tận nơi chứ không đi bộ như xưa. Nhiều thứ đã thay đổi nhưng có điều gần như vẫn còn nguyên vẹn, đó là thời gian ăn cỗ ở quê vẫn thường rất sớm và nhiều nơi vẫn giữ tục ăn cỗ lấy phần.
Có lẽ đó là nếp quen từ bao đời trước - tranh thủ ăn cỗ xong còn kịp về ra đồng, kịp lo việc nhà nông. Giờ đây, mỗi khi nhớ về tục lấy phần, tôi không chỉ nhớ một gói xôi thịt bọc lá chuối thơm mùi nếp mới, mà còn nhớ cả một miền ký ức làng quê mộc mạc, nơi tình người được gói ghém trong từng miếng ăn giản dị. Một thời khó khăn nhưng đầm ấm, thiếu thốn mà chan chứa nghĩa tình.
Tục ăn cỗ lấy phần ở nhiều làng quê Bắc Bộ là một nét văn hóa rất đặc biệt, phản ánh rõ đời sống cộng đồng bao đời của nông thôn Việt Nam.
Ngày trước, cỗ làng, cỗ cưới hay cỗ giỗ là dịp hiếm hoi có món ngon. Người đi ăn thường đại diện cho một hộ gia đình, trong hộ gia đình ấy còn có trẻ con, người già, người đau yếu hoặc người không tiện tới dự. Lấy phần vì thế mang ý nghĩa quan tâm, người ngồi mâm vẫn nhớ tới người ở nhà.
Ở góc độ cộng đồng, tục ấy còn cho thấy tính cố kết của văn hóa làng xã khi mâm cỗ được san sẻ cho nhiều người trong làng. Bởi cỗ bàn không đơn thuần là ăn uống mà là một hình thức xác nhận sự gắn bó cộng đồng. Đi ăn cỗ là đi việc làng, đi giữ tình nghĩa. Và mang phần về cũng là kéo dài sự chia sẻ ấy từ đình làng, đám cưới tới tận căn bếp của mỗi nhà.
Vì thế, ẩn sau tục lệ ăn cỗ lấy phần là cả một hệ giá trị văn hóa làng xã.






















