Kenya lo suy giảm khả năng cạnh tranh
Theo Africa.businessinsider, trong nhiều năm qua, chè Kenya luôn có nhu cầu mạnh tại khu vực vùng Vịnh, giúp nước này thiết lập vị thế vững chắc tại một khu vực tiêu thụ lượng lớn nông sản xuất khẩu của Kenya.
Tuy nhiên, hiện nay xuất khẩu chè của Kenya sang Iran trị giá 32,8 triệu USD đang đối mặt với nhiều bất ổn gia tăng khi xung đột Trung Đông làm gián đoạn các tuyến vận chuyển hàng không và đường biển.
Hội đồng chè Kenya cho biết: “Iran nằm trong top 10 quốc gia nhập khẩu chè của Kenya. Năm 2024, Iran nhập khoảng 13 triệu kg chè, trị giá 32,8 triệu USD từ Kenya”.
Xuất khẩu chè của Kenya sang Iran trị giá 32,8 triệu USD đang đối mặt với nhiều bất ổn gia tăng khi xung đột Trung Đông làm gián đoạn các tuyến vận chuyển hàng không và đường biển. Ảnh: Xinhua/Wang Guansen.
Còn theo một báo cáo của Cục Thống kê Quốc gia Kenya: “Pakistan là thị trường xuất khẩu chè lớn nhất của Kenya, chiếm 34,7% tổng khối lượng xuất khẩu; trong khi đó Ai Cập, Vương quốc Anh, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất và Iran là những thị trường quan trọng khác".
Cuộc xung đột hiện nay tại Trung Đông đang gây tác động mạnh đến logistics. Eo biển Hormuz - một tuyến hàng hải quan trọng xử lý khoảng 1/5 lượng dầu vận chuyển toàn cầu, đang đối mặt với rủi ro an ninh gia tăng. Các hãng hàng không đã phải đổi hướng đường bay, trong khi các công ty bảo hiểm hàng hải đã rút bảo hiểm rủi ro chiến tranh đối với tàu hoạt động tại vùng Vịnh.
Hệ quả trực tiếp là thời gian vận chuyển kéo dài hơn, chi phí vận tải tăng và phí bảo hiểm tăng cao. Những chi phí bổ sung này có thể làm suy giảm đáng kể khả năng cạnh tranh của Kenya so với các nhà sản xuất chè ở Ấn Độ và Sri Lanka, đặc biệt đối với các doanh nghiệp xuất khẩu có biên lợi nhuận thấp.
Việc giao hàng chậm cũng tiềm ẩn rủi ro về chất lượng sản phẩm và nghĩa vụ hợp đồng, nhất là tại những thị trường nơi người mua thường xuyên bổ sung hàng tồn kho.
Cuộc khủng hoảng cũng đe dọa chiến lược dài hạn của Kenya trong việc tăng cường quan hệ thương mại với Iran. Một thỏa thuận cung cấp chè trị giá 40 triệu USD - được xem là bước đi nhằm đa dạng hóa thị trường ngoài các khách hàng truyền thống hiện đang đứng trước nguy cơ lớn.
Ấn Độ đối mặt chi phí vận chuyển và bảo hiểm tăng cao
Theo Timesofindia, các chuyên gia trong ngành cho hay, xuất khẩu chè Ấn Độ đã đạt kỷ lục mọi thời đại với 281 triệu kg vào năm 2025, có thể bị ảnh hưởng nếu xung đột Mỹ - Iran kéo dài thêm vài tuần nữa. Gần 60% lượng xuất khẩu là sang Tây Á và Cộng đồng các quốc gia độc lập (CIS) thông qua eo biển Hormuz quan trọng, nơi hiện có hàng trăm tàu đang bị mắc kẹt.
Phó Chủ tịch Hiệp hội chè Ấn Độ Atul Rastogi cho biết, trong khi tác động của chiến sự Nga - Ukraine chủ yếu ảnh hưởng đến châu Phi, thì lần này có thể là Ấn Độ và Sri Lanka đối với ngành chè. "Sẽ có tác động vì chi phí vận chuyển sẽ tăng lên", ông nói.
Cuộc xung đột tại Trung Đông đang tạo ra nhiều thách thức đối với xuất khẩu chè Ấn Độ. Ảnh: Newsonair.
Năm 2025, tổng lượng xuất khẩu chè của Ấn Độ sang Trung Đông đạt 121 triệu kg. Trong đó, xuất khẩu sang UAE đạt 50,7 triệu kg, tiếp theo là Iraq với 52 triệu kg, Iran (10,6 triệu kg) và Ả Rập Xê Út (6,7 triệu kg). Xuất khẩu sang các nước CIS đạt 43 triệu kg, dẫn đầu là Nga với 31 triệu kg, tiếp theo là Kazakhstan và các nước CIS khác.
Xét về giá trị, tổng kim ngạch xuất khẩu chè năm 2025 đạt 8.500 tỷ Rupee. Xuất khẩu sang Trung Đông đạt 3.300 tỷ Rupee và sang CIS đạt 842 tỷ Rupee.
Ông Sujit Patra, cựu Thư ký Hiệp hội chè Ấn Độ (ITA) và thành viên nhóm làm việc chung Ấn Độ - Iran về chè cho biết, nếu xung đột kéo dài, eo biển Hormuz sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến xuất khẩu chè từ Ấn Độ sang Trung Đông.
Ông Patra cho rằng, chi phí vận chuyển và bảo hiểm tăng cao, cùng với thời gian vận chuyển kéo dài hơn sẽ là những lý do khiến các nhà xuất khẩu và nhập khẩu chè lo ngại. Điều này có thể tác động tiêu cực đến chuỗi cung ứng.
Chủ tịch Liên đoàn các Hiệp hội Trồng chè nhỏ Ấn Độ (CISTA) Bijoy Gopal Chakraborty cho biết, cuộc xung đột tại Trung Đông đã tạo ra ba thách thức chính đối với xuất khẩu chè Ấn Độ, đó là rào cản logistics, thị trường trì trệ và tác động đến giá chè trong nước, chủ yếu là chè Assam Orthodox chất lượng cao, có thị trường lớn ở Iran và Iraq. Tình hình bất ổn ở Tây Á sẽ có tác động trực tiếp đến ngành kinh doanh chè trong thời gian dài".
Chủ động nâng cao chất lượng, mở rộng thị trường
Theo số liệu của Cục Hải quan Việt Nam, trong 2 tháng đầu năm 2026, Việt Nam đã xuất khẩu 18.169 tấn chè, trị giá 31,15 triệu USD; tăng 4,8% về lượng và tăng 10% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025.
Lũy kế 2 tháng đầu năm 2026, giá bình quân xuất khẩu chè ở mức 1.715 USD/tấn, tăng 5% so với cùng kỳ năm 2025.
Trong 2 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu chè của Việt Nam sang Ấn Độ, Philippines, Ba Lan và Các Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất tăng trưởng ba chữ số, đa số mức tăng về trị giá lớn hơn mức tăng về lượng, trong đó xuất khẩu sang Các Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất tăng mạnh nhất, tăng 348,7% về lượng và tăng tới 626,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025.
Hoạt động xuất khẩu chè của Việt Nam trong các tháng đầu năm cho thấy xu hướng điều chỉnh theo tháng, nhưng vẫn duy trì mức tăng trưởng tích cực so với cùng kỳ năm 2025. Ảnh: Hồng Thắm.
Lượng chè xuất khẩu sang Trung Quốc và Hoa Kỳ cũng tăng lần lượt 15,5% và 9,5% so với cùng kỳ năm 2025.
Ngược lại, xuất khẩu sang một số thị trường như Pakistan, Indonesia, Ả Rập Xê út... lại giảm mạnh.
Trong các tháng đầu năm 2026, thị trường chè toàn cầu ghi nhận những tín hiệu đan xen giữa tăng trưởng sản lượng tại một số quốc gia sản xuất lớn và biến động về nhu cầu tại các thị trường tiêu thụ chủ lực.
Đối với Việt Nam, hoạt động xuất khẩu chè trong các tháng đầu năm cho thấy xu hướng điều chỉnh theo tháng, nhưng vẫn duy trì mức tăng trưởng tích cực so với cùng kỳ năm 2025. Tuy nhiên, những biến động địa chính trị, đặc biệt là xung đột tại Trung Đông, đang làm gia tăng rủi ro đối với chuỗi logistics và thị trường tiêu thụ.
Trong bối cảnh đó, ngành chè Việt Nam đứng trước yêu cầu tái cơ cấu thị trường và nâng cao chất lượng sản phẩm để củng cố vị thế trong chuỗi giá trị. Thay vì phụ thuộc vào các thị trường truyền thống, doanh nghiệp nên chủ động mở rộng sang các thị trường mới nổi và những phân khúc có tiêu chuẩn chất lượng cao hơn.
















