Để làm rõ câu chuyện lúa gạo trong bối cảnh mới của năm 2026, Báo Nông nghiệp và Môi trường đã có cuộc trao đổi với ông Đỗ Hà Nam - Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA).
Ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch Hiệp hội lương thực Việt Nam.
Cần xây kho dự trữ lúa gạo quy mô lớn điều tiết cung cầu
Xuất khẩu gạo năm nay có sụt giảm nhẹ về giá so với năm trước, nhưng vẫn cao hơn Thái Lan và Ấn Độ? Vì sao có hiện tượng như vậy, thưa ông?
Trong 4 tháng đầu năm nay, Việt Nam xuất khẩu hơn 3,3 triệu tấn gạo, thu về khoảng 1,5 tỷ USD. Lượng xuất khẩu chỉ giảm nhẹ 2,3%, nhưng giá bình quân lại giảm tới gần 11%, xuống còn 468 USD/tấn, thấp hơn khá nhiều so với mức 508 USD/tấn của năm 2025. Tuy vậy, mức giá bình quân của gạo Việt Nam hiện vẫn cao hơn đáng kể so với nhiều đối thủ trên thị trường thế giới. Với giá này, so với chi phí đầu tư lợi nhuận thu về rất thấp, đây cũng là bất lợi với người nông dân.
Đáng chú ý, nhóm gạo thơm, gạo chất lượng cao của Việt Nam hiện vẫn duy trì được mức giá trên 500 USD/tấn - cao hơn nhiều so với phân khúc gạo trắng thông thường của nhiều nước xuất khẩu khác. Đây được xem là dấu hiệu cho thấy gạo Việt đang từng bước khẳng định vị thế ở phân khúc chất lượng cao thay vì cạnh tranh bằng giá rẻ như trước đây.
Gạo Việt Nam giá bình quân đã vượt Thái Lan, lượng xuất khẩu đã vượt Thái Lan. Trong những năm tới Việt Nam sẽ duy trì vị thế đó, đó là điều chắc chắn. Lý do là Thái Lan cũng đang gặp khó khăn khi người nông dân giảm sản xuất.
Tuy nhiên, về mặt chiến lược xuất khẩu chúng ta cần xem xét lại bởi có một nghịch lý là thị trường Philippines và Trung Quốc chúng ta đang bị ép giá rất mạnh. Khi giá thấp thì họ mua lượng rất lớn, còn khi giá cao thì họ hạn chế mua do hệ thống dự trữ của họ khá tốt. Với thị trường Trung Quốc, khi giá gạo cao như năm 2024 họ nhập 285.000 tấn, năm 2025 giá xuống nhập lên 600.000 tấn hoặc đến năm nay họ có thể nhập lên 1 triệu tấn khi giá xuống dưới 500 USD/tấn. Philippines hiện chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam. Chỉ cần thị trường này điều chỉnh kế hoạch mua hàng là lập tức ảnh hưởng tới giá lúa trong nước. Hai thị trường này dự kiến nhập khẩu khoảng 5 triệu tấn/năm, trong khi tổng lượng xuất khẩu của Việt Nam khoảng 8 triệu tấn/năm, như vậy là chiếm khoảng 70%.
Các nhà xuất khẩu của Việt Nam và nông dân có tâm lý hoảng hốt, đầu vụ giá thấp bán lượng hàng số lượng lớn, nhưng khi giữa vụ hay cuối vụ giá trên 500 USD lại không có đủ lượng hàng để bán. Như thời điểm này, gạo thơm giá cao lại không có lượng hàng để bán. Cũng có hiện tượng doanh nghiệp, chuỗi cung ứng và thương lái đầu cơ tích trữ tạo ra xáo trộn đáng kể trên thị trường hàng hóa.
Với chiến lược nhập khẩu có chu kỳ và vô cùng linh hoạt của các thị trường lớn, theo ông, ngành lúa gạo Việt Nam cần làm gì để thích ứng cũng như giữ được giá tốt?
Chúng ta buộc phải xây dựng một chiến lược giá linh hoạt, thích ứng với chính sách nhập khẩu mang tính chu kỳ của các thị trường lớn. Khi bị ép giá, giải pháp cốt lõi là phải có hệ thống tạm trữ đủ mạnh, bắt đầu từ chính người nông dân.
Lúa hoàn toàn có thể bảo quản từ 6 tháng đến 1 năm nếu có điều kiện kho trữ phù hợp. Với mặt hàng gạo thơm, việc duy trì mức giá xuất khẩu trên 500 USD/tấn và giá lúa đạt khoảng 7.000 đồng/kg là hoàn toàn khả thi. Người nông dân có thể yên tâm trữ lúa, không phải bán vội.
Thực tế năm nay cho thấy rõ điều này: đầu vụ, giá lúa chỉ khoảng 5.000 đồng/kg bán ồ ạt, nhưng khi giá tăng lên 7.000 đồng/kg thì lại không còn lúa để bán. Điều đó cho thấy, nếu tổ chức tốt khâu tạm trữ, chúng ta hoàn toàn có thể chủ động điều tiết cung - cầu, đảm bảo lợi ích cho nông dân, giữ giá lúa ổn định ở mức có lợi, đồng thời duy trì giá xuất khẩu trên 500 USD/tấn.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần giữ vững tâm lý thị trường, rút kinh nghiệm, tránh bán ồ ạt khi thị trường xuống giá. Việc bán hàng cần được thực hiện trong những điều kiện thuận lợi hơn.
Về thị trường, ngoài các thị trường truyền thống như Trung Quốc và Philippines, cần chú trọng hơn tới khu vực châu Phi - nơi nhu cầu gạo thơm Việt Nam đang tăng trưởng rất nhanh, có thể từ 50 - 100% mỗi năm. Cần cân nhắc điều chỉnh cơ cấu thị trường, giảm phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống để mở rộng mạnh hơn sang các thị trường tiềm năng này.
Về chiến lược dài hạn, Việt Nam cần xây dựng hệ thống thương hiệu gạo đa dạng, tiến tới thương hiệu quốc gia. Chỉ khi sản phẩm giữ được chất lượng thuần chủng, không bị pha trộn vì lợi nhuận trước mắt, giá gạo mới có thể ổn định và bền vững.
Nếu thị trường bấp bênh, người nông dân sẽ dần rời bỏ cây lúa để chuyển sang cây trồng khác. Khi đó, chiến lược an ninh lương thực và xuất khẩu gạo của quốc gia chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng.
Cần xây dựng kho dự trữ lúa gạo quốc gia để điều tiết cung cầu và giá lúa gạo. Ảnh: Lê Hoàng Vũ
Theo ông kho dự trữ lúa gạo cần được vận hành như thế nào để tối ưu và đạt hiệu quả giúp giữ giá trị cho hạt gạo Việt?
Thị trường lúa gạo vận hành theo quy luật thị trường, muốn giá cao thì cung phải nhỏ hơn cầu. Muốn điều tiết được cung - cầu thì hàng hóa buộc phải nằm trong kho dự trữ. Khi đó, chính hệ thống kho tạm trữ sẽ trở thành “van điều tiết” của thị trường.
Thực tế, nhiều ngành nông sản khác của Việt Nam như cà phê, hồ tiêu đã làm rất tốt câu chuyện dự trữ để điều tiết giá. Giá cà phê, hồ tiêu tăng cao trong thời gian qua phần lớn do nguồn cung không đủ cầu, và người nông dân có khả năng giữ hàng chờ giá.
Với lúa gạo, điểm khác biệt là nông dân thường bán lúa ngay cả trước khi thu hoạch do áp lực tài chính. Vì vậy, Nhà nước cần tham gia tổ chức cơ chế hỗ trợ để người dân có thể trữ lúa.
Cụ thể, khi nông dân đã sấy lúa xong, nếu thấy giá thấp họ có thể gửi lúa vào kho dự trữ. Kho này sẽ liên kết với doanh nghiệp và ngân hàng để người dân được ứng một phần tiền trước trên chính lượng lúa gửi kho. Nhờ đó, họ vẫn có tiền chi tiêu mà không phải bán lúa khi giá thấp. Khi thị trường thuận lợi, nông dân có thể bán ra để hưởng mức giá tốt hơn.
Mô hình này thực tế đã xuất hiện trong ngành lúa gạo, nhưng mới chỉ áp dụng ở một số nhóm nông dân có điều kiện kinh tế khá. Phần lớn nông dân vẫn chưa thể thực hiện do thiếu cơ chế hỗ trợ.
Do đó, cần thiết phải xây dựng một cơ chế có sự tham gia tổ chức của Nhà nước, sự ứng vốn của doanh nghiệp và sự đồng hành của ngân hàng. Khi đó, câu chuyện điều tiết cung - cầu hoàn toàn có thể thực hiện được.
Thị trường nông sản Việt Nam vốn là thị trường toàn cầu. Bài học từ cà phê và hồ tiêu cho thấy, khi cung không đủ cầu và người dân có khả năng giữ hàng, giá trị nông sản sẽ được nâng lên rõ rệt.
Mục tiêu nông dân phải sống được bằng nghề trồng lúa
Theo ông, đâu là “cái khó” nhất của gạo Việt xuất khẩu hiện nay? Đề án 1 triệu ha lúa phát thải thấp có gỡ được thế khó cho gạo Việt?
Cái khó lớn nhất của gạo Việt Nam khi xuất khẩu hiện nay nằm ở rào cản kỹ thuật từ các thị trường khó tính, đặc biệt là vấn đề dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. Chính yêu cầu ngày càng khắt khe này khiến gạo Việt dù có chất lượng tốt nhưng vẫn khó mở rộng thị phần tại các thị trường như Mỹ, EU, Nhật Bản.
Đề án 1 triệu ha lúa phát thải thấp là một hướng đi rất đúng để từng bước tháo gỡ “nút thắt” này. Tuy nhiên, vấn đề không nằm ở con số diện tích, mà quan trọng hơn là phải xác định rõ: chúng ta sẽ sản xuất loại gạo gì và bán cho thị trường nào. Nếu chỉ thay đổi quy trình canh tác để giảm chi phí thì lợi ích chỉ mang tính trước mắt. Muốn tạo ra giá trị bền vững, phải có chiến lược sản phẩm và chiến lược thị trường khác biệt, hướng đến phân khúc giá cao.
Với năng suất hiện nay, 1 triệu ha mỗi vụ chúng ta đạt khoảng 7 triệu tấn lúa, hai vụ là 14 triệu tấn lúa, tương ứng 8 triệu tấn gạo. Trong khi đó, mỗi năm Việt Nam chỉ xuất khẩu khoảng 8 triệu tấn gạo, phần còn lại tiêu thụ trong nước. Nếu 1 triệu ha lúa phát thải thấp đạt năng suất tương đương, thì sản lượng tạo ra đã xấp xỉ toàn bộ lượng gạo xuất khẩu của cả nước. Tiềm năng là rất lớn, nhưng để biến ý tưởng thành hiện thực cần sự vào cuộc đồng bộ của chính quyền địa phương, doanh nghiệp xuất khẩu và các bộ ngành.
Gạo xanh, phát thải thấp đặc biệt phù hợp với các thị trường phát triển như châu Âu, Mỹ, Nhật Bản - nơi người tiêu dùng sẵn sàng trả giá cao cho sản phẩm đạt tiêu chuẩn môi trường và an toàn. Trong khi nhiều thị trường khác chủ yếu quan tâm đến giá, thì chiến lược đúng là tập trung sản xuất gạo thơm, chất lượng cao, phát thải thấp để phục vụ nhóm khách hàng có thu nhập trung bình trở lên. Khi đó, đề án 1 triệu ha mới thực sự trở thành “chìa khóa” giúp gạo Việt bước vào phân khúc giá trị cao và gỡ được thế khó lâu nay.
Sau đề án 1 triệu ha lúa phát thải thấp cần xây dựng thương hiệu và đầu ra cho sản phẩm. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.
Từ kỳ tích lúa gạo 50 năm qua, ông đánh giá thế nào về ngành lúa gạo trên bản đồ thế giới 5-10 năm tới?
Sau 50 năm phát triển, dù diện tích đất nông nghiệp không lớn, Việt Nam đã tạo nên một kỳ tích trong sản xuất lúa gạo, vượt qua nhiều quốc gia có diện tích gieo trồng lớn như Philippines hay Myanmar. Nông nghiệp Việt Nam thực sự là một câu chuyện đáng tự hào.
Tuy nhiên, nếu chúng ta tổ chức tốt hơn, có chiến lược bài bản hơn, kết quả chắc chắn sẽ còn tốt hơn nữa. Với định hướng đúng đắn, Việt Nam hoàn toàn có thể tiếp tục duy trì vị thế là quốc gia xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới, chỉ sau Ấn Độ.
Trong bối cảnh an ninh lương thực toàn cầu ngày càng được quan tâm, lúa gạo Việt Nam không chỉ có vai trò quan trọng đối với trong nước mà còn với nhiều quốc gia trên thế giới. Thành công của chúng ta đến từ chính sách đúng, sản phẩm chất lượng, nhiều giống gạo ngon được thị trường ưa chuộng.
Tuy vậy, điểm còn thiếu là một thương hiệu gạo quốc gia đủ mạnh. Muốn đi đường dài, cần xây dựng được thương hiệu quốc gia cho hạt gạo Việt. Quan trọng hơn hết, người nông dân trồng lúa phải sống được bằng nghề. Bài toán giá cả, chất lượng sản phẩm ổn định và tính bền vững phải được giải quyết song song thì ngành lúa gạo mới có thể phát triển vững chắc trong tương lai.
Xin cám ơn chia sẻ của ông!
















