Sức lan tỏa của Ấn Độ huyền bí

LÊ THỊ HƯỜNG - Chủ Nhật, 18/09/2022 , 10:39 (GMT+7)

'Đức Phật, Nữ Chúa và điệp viên' là cuốn tiểu thuyết nối dài niềm đam mê Ấn Độ của Hồ Anh Thái.

“Bập vào Ấn Độ như một lần trót thử ma túy. Nghiện. Ám ảnh. Hành. Nhớ quay nhớ quắt. Một thứ ma lực hút ta vào và đời ta mãi mãi không thể nào bình yên được nữa”, nhà văn Hồ Anh Thái từng thổ lộ như vậy. Tiểu thuyết “Đức Phật, Nữ Chúa và điệp viên” là cuốn tiểu thuyết nối dài niềm đam mê Ấn Độ của Hồ Anh Thái. Mảnh đất huyền bí với nhiều vỉa tầng văn hóa cổ luôn bám riết, “hành hạ” nhà văn, làm nên một vùng thẩm mỹ, một mảng đề tài, một series truyện về xứ thiêng Ấn Độ, rất riêng.

Nhà văn Hồ Anh Thái qua nét vẽ Kim Duẩn.

Hồ Anh Thái luôn tạo lực hút từ nhan đề tác phẩm. Xâu chuỗi toàn bộ tiểu thuyết của nhà văn, nhan đề chính là những mã ký hiệu. “Đức Phật, Nữ Chúa và điệp viên” gây ấn tượng về cách sắp xếp đồng đẳng, ngang phè giữa thiêng và phàm, thiện và ác (về nhân sinh); lịch sử, kiếm hiệp, du đãng/bợm nghịch, chương hồi (về thể loại). Đây là cuốn tiểu thuyết ngắn. Tất cả được nén lại. Tuy vậy, xu hướng ngắn hóa không làm giảm sức chứa của một cuốn tiểu thuyết về Ấn Độ cổ đại với những vùng đất, những con người được sử sách ghi danh.

Qua cái nhìn đa chiều của một nhà Đông phương học, Ấn Độ còn được trình hiện với những mặt vênh lệch. Đó là tình trạng phân chia thứ bậc, những bất bình đẳng, kỳ thị đẳng cấp đẫm máu; là mâu thuẫn giữa vương triều và tôn giáo; đối thoại và dung hòa giữa Bà La Môn và Phật giáo. Những tiểu vương quốc lộng lẫy thếp vàng che giấu phía sau là tội ác, mưu mô, tranh đoạt. Quyền lực và cuộc sống xa xỉ, dâm loạn của các quan chức/giáo sĩ Bà La Môn. Đó còn là những lễ hội, phong tục, nghi lễ hỏa táng, thủy táng trên dòng sông thiêng. “Mỗi ngày có hàng trăm hàng nghìn người chết được hỏa táng bên sông rồi tro cốt được rải xuống sông… Người chết nhờ thế mà mát mẻ trong nước và lên với cõi trời”.

Kiệm lời. Đa sắc thái biểu cảm. Những con chữ có độ kết tinh. Nhà văn đi từ bí mật hậu cung đến việc lớn triều đình; từ tinh thất bình an đến những chuyện rất đời; từ câu chuyện tình yêu mang màu sắc kiếm hiệp diễm tình đến những hận thù truyền đời khó buông bỏ. Những góc khuất trong giáo đoàn, khi các khất sĩ còn đang trên con đường tu tập, khi ánh sáng từ bi, không đẳng cấp, không hận thù vẫn còn là lý thuyết của một tôn giáo mới.

Một thoáng xao xuyến đồng giới trong chốn tu hành; một khoảnh khắc say sưa nghiêng ngả trên đường khất thực, những mâu thuẫn nội bộ giáo hội khiến Đức Phật “phiền lòng”. Nhà sư, hoàng hậu, ô cửa hẹp và một vòng tay ôm vượt trên cả lễ nghi. Một thoáng rưng rưng run rẩy khi người con gái (dẫu từng là một Nữ Chúa xuất quỷ nhập thần, diệt bạo cứu nhân) nhìn những lọn tóc rơi rơi khi tìm chốn bình yên nơi cửa Phật. Và một chớp nhoáng bất ngờ khi sư nữ gục xuống, vì một mũi tên tẩm độc của một gã bị “cắt chim”, bị tước bỏ đẳng cấp vẫn nuôi lòng thù hận. Thiện ác, ân oán luẩn quẩn. Hận thù ngỡ đã hóa giải vẫn ngoi lên giữa chốn thiện lành. Phải chăng là nghiệp?

Lịch sử cho thấy căn tính của một dân tộc. Tiểu thuyết lịch sử cho thấy trí lực và tầm văn hóa của một nhà văn. Tiểu thuyết “Đức Phật, Nữ Chúa và điệp viên” viết về lịch sử nhưng không lệ thuộc sự kiện mà nhà văn đã trình hiện lịch sử theo cách của một cái-tôi-văn-hóa. Câu chuyện về lịch sử cổ đại Ấn Độ được cấu trúc theo lối cổ điển, phù hợp với chuyện xưa tích cũ.

Nội dung được triển khai từ một sườn truyện dựa trên trục nhân vật, vừa phân mảnh, vừa liên hoàn. Những nổi nênh phận người dồn nén qua lời tự bạch và dòng tâm trạng. Một cô gái thuộc “đẳng cấp bất khả tiếp xúc” trở thành Nữ Chúa. Một chàng trai si tình thành nhà sư kiêm điệp viên. Một hoàng hậu sống giữa biến loạn vương triều nhưng bằng thiên nhãn nhìn thấu cõi vô minh. Một tiểu vương đắm mình trong hoan lạc, mê muội dẫn đến mâu thuẫn giữa quý phi và hoàng hậu với những cái chết thảm thương. Cấu trúc theo trục nhân vật chỉ là bề mặt văn bản. Cấu trúc nội tại là những mối quan hệ chồng chéo giữa nhiều phương diện (tôn giáo, tín ngưỡng, luật tục, vương triều, tình yêu và cả bi kịch hồng nhan). Tất cả những vấn đề thuộc về một xứ sở, đã vượt thoát khỏi phạm vi lãnh thổ, xóa nhòa biên độ không thời gian, mang chứa nhiều vấn đề muôn thuở của con người. Từ câu chuyện lịch sử, dòng đời, khuôn diện cuộc sống cứ tươi ròng qua lối viết vừa ẩn vừa lộ đậm chất tiểu thuyết. Thiện ác, nhân quả, Trung đạo, tư tưởng cốt lõi của tác phẩm, không chỉ là lý thuyết siêu hình mà đậm nhạt qua một cõi nhân sinh lộn lạo nhiều dục vọng, chênh vênh giữa buông bỏ và níu giữ hận thù. 

Tiểu thuyết "Đức Phật, Nữ Chúa và điệp viên" của Hồ Anh Thái.

“Chúng ta đã có Đức Phật là người chỉ đường. Con đường ấy là Trung đạo. Đấy là sự cân bằng. Mà hết thảy nhân loại đều lệch cán cân và mất thăng bằng”. Sự xóa bỏ đẳng cấp chính là cốt lõi nhân văn trong tiểu thuyết có cái tên rất bợm nghịch này. Mỗi người một thân phận đều gặp nhau dưới ánh đạo hằng của Đấng Giác Ngộ - những con người thuộc đẳng cấp trên quyền lực, đầy tội lỗi và những số phận thuộc đẳng cấp dưới đầy bi kịch đau thương.

Tất cả đều được tái sinh, từ một tôn giáo mới, giáo chủ là Đức Phật, là đấng giác ngộ muôn loài. “Tôn giáo ấy không câu nệ đẳng cấp mà nói rằng mọi người đều ngang bằng bình đẳng”. Không để cho Đấng Giác Ngộ xưng ta, tự kể về mình là sự lựa chọn hợp lý của nhà văn. Phật trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái là một “nhân vật” đồng đẳng với các nhân vật khác, không đẳng cấp, chẳng quyền uy. Nhà văn không giải thiêng cũng chẳng tụng ca. Từ chiều cạnh lịch sử, tác giả tái hiện Đức Phật như một vị đứng đầu giáo hội, đại diện cho một giáo phái mới còn xa lạ, có khi đối nghịch với các tôn giáo khác ở các tiểu vùng Ấn Độ thời cổ đại.

Thậm chí, có lúc Phật “lúng túng” trước cách ứng xử của một tiểu vương quốc; mâu thuẫn trong giáo hội, những biểu hiện sai trái của những khất sĩ có lúc còn vướng buộc bởi sân si trần thế. Đức Phật “phiền lòng” vì chuyện sư uống rượu, chuyện xếp hàng trước nhà vệ sinh, chuyện ẩu đả giữa các pháp hữu và sự mất đoàn kết giữa các giáo đoàn. Đối thoại tôn giáo đặt ra gay gắt nhưng cuối cùng là dung hòa - “Hai tôn giáo khác nhau, nhưng lúc này đều chung một thiện ý. Họ sẽ là những hài nhi mới sinh ra trong một nguồn học thuyết mới, trong một hệ thống đạo đức mới”.

Ấn tượng để lại từ tác phẩm là tình huống bác sĩ chia tay con gái để tiến cung và hẹn gặp lại con ở bến sông. Vị bác sĩ âm thầm làm công việc “cắt mổ khâu vá” các phạm nhân, thiến đi “công cụ làm ác”, để trả thù riêng, trả thù đời. “Bọn ấy không bị treo cổ không bị vùi xác mà tất thảy đều bị cắt chim, rồi bị tập trung cải tạo trên một hòn cù lao hoang vắng trên đầu nguồn sông Hằng. Cắt chim. Bởi vì đấy là cái công cụ dữ tợn mà chúng thường sử dụng với đám đàn bà con gái đẳng cấp thấp trong làng”.

Oán thù ngỡ nguôi ngoai cởi bỏ khi hàng trăm phạm nhân mất nam tính, mất đẳng cấp cao đã được tái sinh. Khi trên đảo không còn những gã đàn ông bị trừng phạt bằng hình phạt nhục nhã, đau đớn còn hơn cả cái chết. “Nhưng cởi ra gỡ ra bằng cách nào đây?”.

Khó có thể xóa bỏ thù riêng, vị bác sĩ âm thầm biến đứa con gái nuôi mơn mởn, hồn nhiên, tràn trề dục lạc thành độc nhân. “Cô là một Vishkanya, một độc nhân, không chỉ là độc dược mà là một độc nhân, một người mà cả thân thể của mình là bầu thuốc độc”. Lại một thiếu nữ tiến cung, không phải để mỏi mòn chờ kiệu ngựa vua ngẫu nhiên dừng lại ở bó cỏ tươi non (“ngựa dừng lại ăn bó cỏ trước phòng nào thì cung phi trong phòng ấy được chọn. Lúc ấy đám cấm vệ mới rầm rập chạy đến, chăng đèn kết hoa. Đám nữ tì chuẩn bị trà nước và một điếu cần sa. Giường đệm được thay mới. Trầm được đốt lên. Xạ hương được vẩy khắp”) mà làm vật hiến tế, để tiêu diệt cái ác. Lại một bông hoa tàn rữa vì một gã đàn ông đẳng cấp cao, gã đàn ông ấy mặc hoàng bào, khuôn mặt “phảng phất buồn” che giấu con quỷ dâm dục bên trong. Tiểu vương có khuôn mặt trầm lặng ấy là kẻ hoang dâm vô độ “bắt hết đàn bà con gái về hậu cung”, dung túng cho quý phi từ đẳng cấp hạ tiện lên chốn mẫu nghi, khuynh loát vương triều.

Cuộc hẹn đắng lòng. “Người cha biết rất rõ rằng mỗi Vishkanya là một thứ thuốc độc chỉ dùng một lần rồi bỏ. Khi kế hoạch thành công thì đứa con gái nọ không thể nào chạy ra được khỏi hoàng cung”. Hận thù khó buông bỏ. Một đời xóa không xong.

“Sẽ không bao giờ nó chạy được ra đến bến sông này”. Nhà văn buông một lời kết nhẹ tênh nhưng trĩu nặng trầm tư, để lại ấn tượng sâu đậm, tạo sức lan tỏa của câu chuyện về lịch sử Ấn Độ huyền bí. Một đất nước thờ toàn nữ thần sao nam quyền thống trị? Một xứ sở thần linh sao dòng sông thiêng không rửa sạch được khổ nạn người?                                                                                  

LÊ THỊ HƯỜNG
Tin khác
Bí quyết giữ nghề ở làng trống ven sông Vàm Cỏ Tây
Bí quyết giữ nghề ở làng trống ven sông Vàm Cỏ Tây

Những chiếc trống của làng trống Bình An đang có chỗ đứng vững chắc trên thị trường nhờ những nghệ nhân tài hoa, nhưng nơi đây đang mong mỏi lớp người kế nghiệp.

Cụ Kép Trà đã mắng khéo đội ngũ quan lại triều Nguyễn thế nào?
Cụ Kép Trà đã mắng khéo đội ngũ quan lại triều Nguyễn thế nào?

Cụ Kép Trà tài năng, đức độ, lại có chút ngạo nghễ, bất cần đời. Nhân một buổi bình Truyện Kiều, các quan lại cho rằng cụ mượn thơ mắng quan lại Triều Nguyễn

Xóa rào cản ngôn ngữ cho trẻ em đồng bào khi vào lớp 1
Xóa rào cản ngôn ngữ cho trẻ em đồng bào khi vào lớp 1

Bằng nhiều giải pháp, Tây Ninh đang nỗ lực xóa rào cản ngôn ngữ cho trẻ em dân tộc thiểu số trước khi vào bậc tiểu học.

Tuần phủ Lê Trung Ngọc với việc bảo tồn di tích
Tuần phủ Lê Trung Ngọc với việc bảo tồn di tích

Lê Trung Ngọc là vị quan có tinh thần dân tộc cao và rất có ý thức trong việc bảo tồn văn hóa, di sản, cổ tích của dân tộc.

Xoá rào cản ngôn ngữ: [Bài 2] Tiếng Việt mở lối tri thức
Xoá rào cản ngôn ngữ: [Bài 2] Tiếng Việt mở lối tri thức

Tây Ninh Ở sóc Chăm Tân Ninh, rào cản ngôn ngữ dần được tháo gỡ khi trẻ em tiếp cận tiếng Việt từ sớm, tạo nền tảng tri thức và tương lai bền vững.

Xóa rào cản ngôn ngữ [Bài 1] Chiến lược dài hơi từ lớp học tiếng Việt
Xóa rào cản ngôn ngữ [Bài 1] Chiến lược dài hơi từ lớp học tiếng Việt

Tây Ninh Nghị quyết 43/2025/NQ-HĐND là giải pháp chiến lược, giúp trẻ em dân tộc thiểu số xóa rào cản ngôn ngữ, tạo nền móng vững chắc cho hành trình tri thức hóa nông dân địa phương.

Trẩy hội đền Hùng
Trẩy hội đền Hùng

Ngày mồng mười tháng ba - ngày giỗ Tổ Hùng Vương - chính là ngày kỉ niệm trong lịch sử quốc dân ta đó…

Hà Huy Thanh và triết lý tình thương
Hà Huy Thanh và triết lý tình thương

Hà Huy Thanh dù trên cương vị là người viết sách hay doanh nhân thì triết lý chung mà anh theo đuổi chỉ có một vấn đề duy nhất là triết lý tình thương.

Cù lao Rùa có một thư viện tư nhân độc đáo
Cù lao Rùa có một thư viện tư nhân độc đáo

Cù lao Rùa bình yên giữa dòng sông Đồng Nai bao bọc, đang trở thành một điểm sáng văn hóa đọc, với thư viện tư nhân của nhà báo Mai Sông Bé.

Nhà thơ Vũ Từ Trang, thi sĩ Bắc Ninh ‘toàn tòng’
Nhà thơ Vũ Từ Trang, thi sĩ Bắc Ninh ‘toàn tòng’

Vũ Từ Trang trong tâm trí bạn văn, là một người chỉnh chu, không ồn ào, ngay cả thế sự cũng âm thầm ưu phiền.

Đính chính nhỏ về một bài thơ của Phan Khôi trong 'Nhà văn hiện đại'
Đính chính nhỏ về một bài thơ của Phan Khôi trong 'Nhà văn hiện đại'

Bài thơ 'Viếng mộ ông Lê Chất' của học giả Phan Khôi trong tuyển tập 'Nhà văn hiện đại' năm 1942 có chút nhầm lẫn so với tài liệu lưu trữ gốc được số hóa.

Sinh từ và những người được lập sinh từ trong lịch sử Việt Nam
Sinh từ và những người được lập sinh từ trong lịch sử Việt Nam

Lập sinh từ là đỉnh cao của vinh danh trong văn hóa Việt Nam xưa, là phần thưởng quý giá hơn mọi sắc phong của triều đình vì sinh từ xuất phát từ lòng dân.