‘Lời phả hương’ và những ấn tượng thi ca

Đặng Huy Giang - Thứ Sáu, 01/09/2023 , 11:10 (GMT+7)

‘Lời phả hương’ là tên gọi tập thơ mới của Đinh Nho Tuấn, một nhà thơ quê quán Hương Sơn, Hà Tĩnh từng du học tại Nga và hiện nay sinh sống tại TP.HCM.

Nhà thơ Đinh Nho Tuấn.

“Lời phả hương” là tập thơ thứ năm của Đinh Nho Tuấn, sau các tập “Em hãy cho anh vội”, “Em tôi”, “Díu dan với núi sông” và “Ngàn tiếng đời ấp ủ”. Nhà thơ Đinh Nho Tuấn sinh năm 1966, là con trai của nhà báo Đinh Nho Liêm - Nguyên Tổng Biên tập báo Nghệ Tĩnh và báo Hà Tĩnh.

Tình cờ, tôi có trong tay “Lời phả hương” của Đinh Nho Tuấn, nhờ hoạ sĩ Ngô Xuân Khôi. Bởi lẽ, Ngô Xuân Khôi là bạn của nhà thơ Đinh Nho Tuấn và người vẽ bìa cho tập thơ “Lời phả hương”. Là người yêu thơ, mê thơ... tôi đã đọc một mạch “Lời phả hương” đến mức không dứt ra được.

Chỉ riêng tên tập thơ đã quá hay. Lời mà phả ra hương (mùi thơm) hay hương ở trong lời mà bay ra hoặc hương có xuất phát từ lời, xưa nay, đã chắc có không nhiều người nghĩ tới. Nếu nói chỉ riêng tên gọi của tập thơ đã là một phát hiện, chắc hẳn cũng không quá lời một chút nào.

Tôi không biết “Lời phả hương” có liên quan đến “Biết bao giờ mới thôi phả hương” (tên một bài thơ trong tập thơ) không? Hay “Lời phả hương” có gợi ý từ “Biết bao giờ mới thôi phả hương” không? Nhưng bốn câu thơ cuối của “Biết bao giờ mới thôi phả hương” khiến người đọc không thể không ngẫm nghĩ: “Những cây cầu chết lịm với thời gian/ Vẫn mải mê nối hai bờ cao thấp/ Gió mùa thu cuộn tròn trong lồng ngực/ Biết bao giờ mới thôi phả hương”.

Hơn ai hết, Đinh Nho Tuấn có ý thức và trách nhiệm rất cao về bổn phận của nhà thơ. Bởi thế trong “Hơi thở đêm”, ông mới viết: "Những bài thơ của anh muôn đời của anh/ Nếu anh không viết chúng ra thì không ai sẽ viết”. Bởi thế trong “Tôi thách tôi”, ông mới viết: "Tôi vẫn viết như ngày mai tuyệt chủng...Một niềm tin thơ và một bản lĩnh thơ như thế, ở đời, dễ có mấy ai!".

Đọc những câu thơ này, tôi không thể không nhớ đến một bài thơ ngắn của Tagore viết cách nay đã lâu: “Tôi nằm ngủ và mơ thấy cuộc đời là niềm vui/ Tôi thức giấc và tôi thấy cuộc đời là bổn phận/ Tôi hành động và... ô kìa bổn phận chính là niềm vui”. Vâng, trong thơ cũng thế thôi, bổn phận là một cái gì không thể thay thế và cũng là niềm vui, là hạnh ngộ của Đinh Nho Tuấn.

Nhiều bài thơ trong “Lời phả hương” là thơ về tình yêu hoặc có liên quan đến tình yêu. Thơ tình Đinh Nho Tuấn thường được triển khai có ý, có tứ và rất lạ. Ta chỉ cần đọc bốn bài: “Anh sẽ ăn những vầng trăng vỡ”, “Sao em nhiều thế em ơi” và “Tìm nhau”, “Mong manh tìm về mong manh” là hiểu con người tình yêu của ông.

“Anh sẽ ăn những vầng trăng vỡ/ Nuốt vào lòng tiếng nói thân quen/ Dẫu hoá đá thiên thai tức tưởi/ Chôn chân ngàn năm anh đợi em”.

“Ngày đầu gặp anh/ Em chỉ là giọt nắng/ Ai nuôi em lớn thành mặt trời/ Mà chiếu trong anh từng hơi thở/ Sao em nhiều thế em ơi!”.

“Đích đến em vô cùng”

“Khói sương đi tìm sương khói/ Mong manh tìm về mong manh”

Đây là bốn chi tiết thơ đáng nhớ, như chạm khắc vào trí nhớ người đọc và không dễ viết. Riêng “Sao em nhiều thế em ơi” và “Đích đến em vô cùng” là tình yêu của anh dành cho em, được ấp ủ một đời. Còn “Khói sương tìm về sương khói/ Mong manh tìm về mong manh” chính là bản chất của tình yêu.

Và trong tình yêu, quan trọng hơn vẫn là sự tương ứng, tương thích: “Nếu sóng kia vỗ bờ không khắc khoải/ Thì cát kia đau khổ làm gì” (Với biển đêm).

Tập thơ "Lời phả hương".

Trong tập thơ “Dan díu với núi sông” xuất bản năm 2020, ít nhất Đinh Nho Tuấn nhắc đến em qua “Em vắt tôi”, “Tôi là tôi cả tình yêu sự chết”, “Cho tôi xuống bến Lam Kiều”, trong đó có những câu rất đáng đánh dấu khuyên vào đó: Khi em nở một nụ cười/ Em vắt tôi/ Dưới ánh hào quang tôi tan chảy...; Tôi ngồi bên em chiều hoang dại/ Chợt hình em là ánh sao xa/ Một vì sao muôn trùng khác biệt/ Không lẫn không tan giữa bao la; Cả nắm đất ngày thanh minh em hái/ Nay hạt mầm nở giữa lòng ta...

“Vì thế ta trong nhau” là bài thơ được về tổng thể. Bài thơ có năm khổ, khổ nào cũng chu diên, vẹn toàn. Bài thơ như dồn nén lại và như vỡ oà ra ở khổ cuối:

“Nhưng bình minh và hoàng hôn vẫn run run ngày mai

Yêu thương đâu cần câu từ khúc chiết

Những giọt mưa đánh vẫn nhau ê a thân thuộc

Vì thế ta trong nhau”.

“Tổ quốc tôi đang chạy” là một tứ thơ độc đáo. Sức nặng như nằm trong ba câu:

“Giấc mơ đặt lên yên ngựa

Sinh ngày để kiếm đường đi

Bởi chưng dừng là sự chết...”.

Thơ Đinh Nho Tuấn còn nhiều nét lạ nữa qua những câu “Ta ngồi đây như cây bật gốc” trong “Có cơn bão xa là thanh kiếm”, “Xinh đẹp như nỗi cô đơn” trong “Gái quê”, “Biển là tôi trôi ngược về em” trong “Với biển đêm”...

Trong “Anh và tôi trái đất rồi sẽ thiếu”, Đinh Nho Tuấn băn khoăn về cách hành xử giữa người với nhau trong cuộc sống hàng ngày: Ta như thế nào với nhau? Ông không chỉ băn khoăn mà còn đau đớn một cách quyết liệt trước khổ đau và mất mát của bà mẹ Ukraine và bà mẹ Nga trong cuộc xung đột Nga - Ukraina.

Đây là mấy câu trong “Họ quá vội về bên kia thế giới”: “Tôi thấy người mẹ Ucraina/ Khóc, đợi con trong bóng tối/ Cách đó hàng ngàn dặm, những người mẹ nước Nga/ Không kém phần khổ đau chờ đợi”.

Đây là mấy câu trong “Chiến tranh”: “Họ nói về mẹ mình/ Nhưng bắn vào mẹ người khác/ Họ nói về những đứa con mình/ Nhưng giết chết những đứa con người khác”.

Từ mấy câu thơ gan ruột này của Đinh Nho Tuấn, tôi chợt nghĩ và đặt ra câu hỏi: Nếu không quan tâm hoặc bầy tỏ thái độ đến số phận con người, không quan tâm đến những vấn đề nóng bỏng của thời cuộc, của đời sống, thì các nhà thơ và thơ sinh ra để làm gì nhỉ?

Đặng Huy Giang
Tin khác
Bí quyết giữ nghề ở làng trống ven sông Vàm Cỏ Tây
Bí quyết giữ nghề ở làng trống ven sông Vàm Cỏ Tây

Những chiếc trống của làng trống Bình An đang có chỗ đứng vững chắc trên thị trường nhờ những nghệ nhân tài hoa, nhưng nơi đây đang mong mỏi lớp người kế nghiệp.

Cụ Kép Trà đã mắng khéo đội ngũ quan lại triều Nguyễn thế nào?
Cụ Kép Trà đã mắng khéo đội ngũ quan lại triều Nguyễn thế nào?

Cụ Kép Trà tài năng, đức độ, lại có chút ngạo nghễ, bất cần đời. Nhân một buổi bình Truyện Kiều, các quan lại cho rằng cụ mượn thơ mắng quan lại Triều Nguyễn

Xóa rào cản ngôn ngữ cho trẻ em đồng bào khi vào lớp 1
Xóa rào cản ngôn ngữ cho trẻ em đồng bào khi vào lớp 1

Bằng nhiều giải pháp, Tây Ninh đang nỗ lực xóa rào cản ngôn ngữ cho trẻ em dân tộc thiểu số trước khi vào bậc tiểu học.

Tuần phủ Lê Trung Ngọc với việc bảo tồn di tích
Tuần phủ Lê Trung Ngọc với việc bảo tồn di tích

Lê Trung Ngọc là vị quan có tinh thần dân tộc cao và rất có ý thức trong việc bảo tồn văn hóa, di sản, cổ tích của dân tộc.

Xoá rào cản ngôn ngữ: [Bài 2] Tiếng Việt mở lối tri thức
Xoá rào cản ngôn ngữ: [Bài 2] Tiếng Việt mở lối tri thức

Tây Ninh Ở sóc Chăm Tân Ninh, rào cản ngôn ngữ dần được tháo gỡ khi trẻ em tiếp cận tiếng Việt từ sớm, tạo nền tảng tri thức và tương lai bền vững.

Xóa rào cản ngôn ngữ [Bài 1] Chiến lược dài hơi từ lớp học tiếng Việt
Xóa rào cản ngôn ngữ [Bài 1] Chiến lược dài hơi từ lớp học tiếng Việt

Tây Ninh Nghị quyết 43/2025/NQ-HĐND là giải pháp chiến lược, giúp trẻ em dân tộc thiểu số xóa rào cản ngôn ngữ, tạo nền móng vững chắc cho hành trình tri thức hóa nông dân địa phương.

Trẩy hội đền Hùng
Trẩy hội đền Hùng

Ngày mồng mười tháng ba - ngày giỗ Tổ Hùng Vương - chính là ngày kỉ niệm trong lịch sử quốc dân ta đó…

Hà Huy Thanh và triết lý tình thương
Hà Huy Thanh và triết lý tình thương

Hà Huy Thanh dù trên cương vị là người viết sách hay doanh nhân thì triết lý chung mà anh theo đuổi chỉ có một vấn đề duy nhất là triết lý tình thương.

Cù lao Rùa có một thư viện tư nhân độc đáo
Cù lao Rùa có một thư viện tư nhân độc đáo

Cù lao Rùa bình yên giữa dòng sông Đồng Nai bao bọc, đang trở thành một điểm sáng văn hóa đọc, với thư viện tư nhân của nhà báo Mai Sông Bé.

Nhà thơ Vũ Từ Trang, thi sĩ Bắc Ninh ‘toàn tòng’
Nhà thơ Vũ Từ Trang, thi sĩ Bắc Ninh ‘toàn tòng’

Vũ Từ Trang trong tâm trí bạn văn, là một người chỉnh chu, không ồn ào, ngay cả thế sự cũng âm thầm ưu phiền.

Đính chính nhỏ về một bài thơ của Phan Khôi trong 'Nhà văn hiện đại'
Đính chính nhỏ về một bài thơ của Phan Khôi trong 'Nhà văn hiện đại'

Bài thơ 'Viếng mộ ông Lê Chất' của học giả Phan Khôi trong tuyển tập 'Nhà văn hiện đại' năm 1942 có chút nhầm lẫn so với tài liệu lưu trữ gốc được số hóa.

Sinh từ và những người được lập sinh từ trong lịch sử Việt Nam
Sinh từ và những người được lập sinh từ trong lịch sử Việt Nam

Lập sinh từ là đỉnh cao của vinh danh trong văn hóa Việt Nam xưa, là phần thưởng quý giá hơn mọi sắc phong của triều đình vì sinh từ xuất phát từ lòng dân.